Thứ Ba, 29 tháng 6, 2010

Xây dựng đế chế web từ những thứ... kỳ quặc

Vào một blog tràn ngập hình những chú mèo ngốc nghếch, và ý tưởng xây dựng đế chế web khai thác "lòng hâm mộ" những thứ kỳ quặc của cư dân mạng đến với Ben Huh.

Mỏ vàng trên mạng

Ben Huh lần đầu tiên biết đến sự tồn tại của trang web này khi nó được liên kết đến blog về thú nuôi của chính anh. Trang web I Can Has Cheezburger chỉ làm một việc là đăng hình các chú mèo ngộ nghĩnh kèm theo những lời bình có thể khiến bất cứ ai cũng phì cười. Anh nhận ra ngay đó là một "mỏ vàng".

"Đánh hơi" thấy một hiện tượng Internet tiềm năng, Huh lập tức gạ gẫm các nhà đầu tư và ném toàn bộ số tiền tiết kiệm 10 ngàn đô của mình vào để mua trang web này từ hai blogger người Hawaii.



Một bức hình hài hước trên Failbolg

Đó là một quyết định thót tim," anh nói. "Ngay từ đầu tôi biết trang web đó rất hài hước, nhưng không chắc có thể biến nó thành một phi vụ kinh doanh có hời không?"

Kể từ khi đó, Huh đã khám phá ra ham muốn vô độ đối với những thứ hài hước kỳ quặc của cư dân trên mạng.

Lượng truy cập vào trang Cheezburger tăng vọt trong vòng 3 năm qua, khuyến khích Hub mở rộng đế chế ảo của mình lên 53 trang web, tất cả đều được nạp nội dung từ chính những người dùng.

Phần lớn chất liệu trên mạng lưới của Huh đều do chính người đọc tạo ra. Họ có thể dùng Photoshop để dán một bình luận hài hước trên một tấm ảnh, hoặc cắt ra vài phút trong một bộ phim yêu thích để gửi lên chờ đánh giá. Công ty của Huh nhận được hơn 18 ngàn bài gửi từ người đọc mỗi ngày.

Theo hãng phân tích Quantcast, trong tháng 5 năm nay, Mạng lưới Cheezburger của Hub đã thu hút 16 triệu người vào xem.

Thành công gần đây nhất của anh chàng này là một trang blog với tên gọi Thất bại (Fail Blog) ghi lại những rủi ro thê thảm hoặc những hành động ngu ngốc thường ngày thông qua hình ảnh và các đoạn video. Mạng lưới của anh còn bao gồm những trang nhỏ hơn như Daily Squee, đăng hình những động vật dễ thương, và There I Fixed It, đăng những bức ảnh với chủ đề "chữa bò lành thành bò què."

"Đào vàng"

Công ty của Huh kiếm tiền chủ yếu từ quảng cáo trên các trang web. Và họ kiếm được lợi nhuận ngay từ những ngày đầu tiên.

Giám đốc phụ trách doanh thu của công ty, Todd Sawicki cho biết: công ty càng mở rộng thì các cơ hội kiếm tiền cũng càng tăng lên.



Một tác phẩm "chữa lợn lành thành lợn què" trên blog There I Fixed It

"Chỉ 1% những nội dung được độc giả gửi đến là có mặt trên các trang web. Phần còn lại được in trên áo thun, sách báo và các đồ vật mà khán giả yêu thích," Sawicki nói thêm.

Anh khẳng định chỉ trong một năm này, họ có thể kiếm hàng triệu đô từ quảng cáo, phí bản quyền và các cửa hàng bán lẻ.

Công ty của Huh đã xuất bản 5 cuốn sách lấy nội dung từ các blog của mình, một trong số đó là cuốn sách ảnh in hình những chú mèo kèm theo chú thích viết sai chính tả với tựa đề Lolcats (tạm dịch Cười với miu yêu). Lolcats liên tục nằm trong danh sách best-seller của New York Times trong suốt 13 tuần. Ba cuốn sách tiếp theo đang trong giai đoạn soạn thảo, và nhiều thiệp chúc mừng, sổ để bàn theo phong cách Cheezburger cũng sắp sửa ra đời.

Một bí mật cho thành công của công ty nằm ở cách họ khai thác các trào lưu trên mạng. Họ tìm kiếm những gì được coi là hài hước trong thời điểm hiện tại bằng cách liên tục ra vào các diễn đàn công cộng, xem mọi người đang quan tâm đến những gì, sau đó mở ngay một trang web mới dành riêng cho "mốt" hài hước đang được ưa chuộng đó.


Các bức ảnh trên web của Huh đầy những lỗi chính tả cố ý đáng yêu như thế này

"Cheezburger tìm ra những trào lưu mới chớm, rồi tập hợp sự hài hước từ những thứ vớ vẩn nhất," Kenuatta Cheese, một trong số người sáng lập chuỗi video trên web nổi tiếng "Know Your Meme" nhận xét. "Những thứ như Lolcats hay Fail đều rất dễ làm, dễ lan truyền và có tác động mạnh đến cảm xúc của khán giả. Chính điều đó giúp họ vượt qua rất nhiều rào cản kinh doanh truyền thống."

Joe Olk, 28 tuổi, là một trong số nhiều nhân viên ở đây chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là ngồi tìm xem thứ gì có thể khiến cho họ bật cười thật sảng khoái. Lướt chuột qua hàng trăm tấm ảnh trên màn hình vi tính, Olk dừng lại trước những bức ảnh có vẻ kỳ quặc và gây cười. Và chỉ với một cú nhấp chuột, bức ảnh đã được đưa lên mạng.

Kiki Kane, người giám sát việc phát triển các trang mới cho mạng lưới của công ty cho rằng: phần khó nhất chính là xác định xem một xu hướng trên mạng có "sống" được lâu hay không. Cô đặt mục tiêu cho ra một trang web mới hàng tuần. Không phải tất cả các trang mới đều thành những ngôi sao, có những trang đìu hiu và chìm nghỉm chỉ sau vài tuần ra mắt.

"Chúng tôi bỏ đi khoảng 20% những trang web mà chúng tôi đã xây dựng," Huh nói.

Liên tục thay đổi để chiều lòng những vị khán giả đỏng đảnh của mạng Internet, ra mắt các trang mới để nương theo các xu hướng thời thượng và bỏ đi những trang cũ đã không còn thu hút đó chính là những điểm làm nên sức hấp dẫn "kỳ quặc" của công ty Huh.

Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2010

Quảng cáo và hiệu quả

“Truyền hình đã giết chết những ngôi sao trên sóng phát thanh” Tôi không dám chắc điều đó đúng hay sai mặc dù là nó đúng thật đi chăng nữa! Chỉ có điều, tôi có thể dám nói chắc với bạn rằng, quảng cáo đang tự giết mình, hay ít nhất nó cũng đang tự lấy đi ngọn gió đang thổi căng cánh buồm của chính nó.

Quảng cáo đã từng phát huy hiệu quả, không những thế mà còn có hiệu quả rất tốt nữa. Tôi có thể lý giải chữ “hiệu quả” như thế nào nhỉ? Chẳng hạn như trước đây, sản phẩm hay dịch vụ dựa trên sự khác biệt về chất lượng và giá trị, nên các sản phẩm ra đời như nấm, người ta bị cuốn hút vào quảng cáo, từ quảng cáo công khai cho đến cách quảng cáo bí ẩn kỳ lạ. Nhờ đó, doanh thu của các loại hàng hóa nói trên cũng tăng lên một cách đáng kể.

“Truyền hình đã giết chết những ngôi sao trên sóng phát thanh” Tôi không dám chắc điều đó đúng hay sai mặc dù là nó đúng thật đi chăng nữa! Chỉ có điều, tôi có thể dám nói chắc với bạn rằng, quảng cáo đang tự giết mình, hay ít nhất nó cũng đang tự lấy đi ngọn gió đang thổi căng cánh buồm của chính nó.

Bài học lâu đời từ một nhà triết học Hà Lan

Khi bước qua thời kỳ đầu tiên như thế của tiếp thị, khách hàng bắt đầu dễ tin vào những kinh nghiệm quá khứ và trở nên dễ xúc cảm đối với nội dung quảng cáo. Thời gian đúng là một chất xúc tác cho quảng cáo, cho đến một ngày, có một điều gì đó đã xảy ra.

Trước khi kể cho bạn nghe điều gì đã xảy ra, chúng ta hãy trở về 325 năm trước. Nhà triết học người Hà Lan nổi tiếng thời bấy giờ – Benedictus Spinoza đã phát triển nên một định đề như sau: “Khi bạn lĩnh hội một điều gì đó tức là bạn đã tin vào nó. Ví dụ nhé, nếu bạn nói “Mắt tôi màu nâu”, tôi cũng hiểu và tin vào lời bạn nói. Nếu muốn không tin thì còn phải đợi một hành động khác nhằm phản bác dựa trên một lý luận hoặc một bằng chứng cảm quan khác”.

Các cuộc nghiên cứu xã hội và nhận dạng tâm lý gần đây đã cho thấy rằng Spinoza đã đúng: Chấp nhận một ý kiến tức là lĩnh hội ý kiến đó, và sự phản đối luôn luôn đến sau nhưng luôn hiệu quả hơn sự chấp nhận đã đến trước đó. Vậy điều này có liên quan gì đến tác dụng của quảng cáo ? Hầu như liên quan đến tất cả!

Trong những ngày tháng rực rỡ của tiếp thị diện rộng, khách hàng bị lôi kéo để lĩnh hội quảng cáo, rồi chấp nhận nó vì những lý do sau: Ký ức về những quảng cáo trước thôi thúc chúng ta chấp nhận nó. Hay rất đơn giản chỉ vì chúng ta muốn tin vào nó. Tốt hơn là chúng ta nên tin vì các hoạt động thị trường chỉ giúp chúng ta thêm thành công, thỏa mong ước, sống lâu hơn và hạnh phúc hơn mà thôi.

Tôi xin phép được nhắc lại: Chúng ta muốn tin vào nó. Thật buồn cười là chúng ta đã làm như vậy. Chúng ta hạnh phúc nhất khi chúng ta đang tưởng tượng là mình hạnh phúc. Nếu bạn nói với tôi là: “Tom, anh là người thông minh nhất mà tôi từng biết đấy nhé”. Chỉ là vì tôi muốn chọn bạn để tin tưởng. Vì sao bạn biết không? Chỉ vì tin bạn thì dễ và chẳng có gì cản trở trong việc tôi tin bạn. Hơn nữa, tôi sẽ khó khăn hơn và mất thời gian để đi chứng minh điều ngược lại, vì phải tìm ra như thế nào là “thông minh”, rồi phải làm việc với bạn và tìm ra danh sách những người bạn quen biết để thực hiện một cuộc khảo sát người nào thông minh nhất ..v.v

Nói tóm lại, tốt nhất là tôi nên tin bạn mà khỏi cần kiểm chứng, trừ phi trong một câu chuyện khác bạn đề cập đến câu chuyện vừa rồi như là một chuyện hết sức nhảm nhí. Thật thú vị, điều này lại có liên quan đến câu chuyện về quảng cáo mà tôi sắp nói ra.

Bộ não của chúng ta là một bộ máy có khuynh hướng chờ đợi sự sáng tạo khác biệt. Chúng ta liên tiếp theo dõi thị trường, cố gắng chỉ ra tương lai có thể chỉ dựa trên những mẩu thông tin chắp vá – chẳng hạn như quảng cáo. Chúng ta tin vào quảng cáo (nói chung), vì trong đầu đã có sẵn ý nghĩ “hầu như quảng cáo nào cũng đúng và hữu ích mà!”.

Đúng vậy, chính vì thế chúng ta sẵn sàng chấp nhận quảng cáo vì mẩu thông tin trong đầu của chúng ta vẫn còn tồn tại, ngay cả khi chúng ta có cơ hội kiểm chứng, chúng ta vẫn cứ muốn tin vào nó trước cái đã. Trong một chừng mực nào đó, chúng ta vẫn hành động như vậy.

Nhưng tôi hỏi bạn nhé, rồi chuyện gì xảy ra nếu chúng ta bị một đống thông tin linh tinh với nhiều lựa chọn làm rối lên ? Chúng ta rồi sẽ quyết định để ý tới thông tin nào khi thời gian lại là thứ đáng tiền nhất ? Chúng ta sẽ làm điều chúng ta đã làm. Có nghĩa là chúng ta lần theo kinh nghiệm quá khứ để giải quyết vấn đề hiện tại. Một cách nhanh chóng và gọn nhẹ, chúng ta moi những mẩu thông tin đã có trong đầu ra và quyết định ngay cần phải làm gì.

Kinh nghiệm quá khứ đem lại hiệu quả tốt

Kinh nghiệm của các tay cừ khôi cho thấy, họ có thể chỉ cần liếc nhìn trên bàn cờ, sau đó có thể đọc lại vanh vách thế cờ đó, đúng với từng vị trí con cờ một. Nhưng nếu chúng ta cho họ thấy một bàn cờ bất kỳ (không có thế cờ rõ ràng), chắc chắn họ không thể lặp lại. họ có khả năng nhó như vậy, chính nhờ vào ký ức hình ảnh: kinh nghiệm chơi cờ của họ trong quá khứ. Họ đã thu thập những thông tin để ghép lại thành những thông tin hữu ích, và nhơ lại trong một trường hợp nào đó.

Đối với thị trường cũng thế. Chúng ta trở thành người thu thập và phân biệt những thông tin thị trường rất chủ động. Sau đó, chúng ta dễ dàng nhớ lại và phản ứng rất tốt với những quảng cáo được cho là “đặc biệt”. Thế là những hình ảnh về sản phẩm, dịch vụ mà chúng ta đã tin rằngchúng làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lại hiện về. Vậy những hình ảnh đó là gì ? Hầu như là chả giống nhau tí nào. Kể từ đó bộ não của chúng ta bắt đầu cảm thấy chán ghét sự mâu thuẫn đó, vì thế người thông minh nhất có thể giải tỏa bằng cách nói ngược lại “Trời ạ ! lại cái quảng cáo đó nữa hả ? lần này tôi không có bị dụ nữa đâu nha.”

Nếu có càng nhiều quảng cáo giống nhau thì càng nhiều quảng cáo được chúng ta cho trôi vào dĩ vãng. Chúng trở thành sự ồn ào trong tâm trí và bị thống lĩnh bởi quá khứ. Cũng giống như các tay chơi cờ hạng cừ, chúng ta biết rõ nó nằm ở đâu với ý nghĩa gì. Và khi đồng hồ vẫn chạy trong cuộc chơi của một thị trường biến đổi cực nhanh như hiện nay, chúng ta bị hấp dẫn nếm thử những trải nghiệm mới, nên nhanh chóng xem xét lại những lựa chọn rồi quyết định. Chúng ta không có thời giờ suy nghĩ kỹ lưỡng hay xem xét những lựa chọn có thể sai.

Thế thì người làm quảng cáo cần phải làm gì ? Có thể cần phải thêm vào tiềm thức của khách hàng tiếng chuông lẫn vài lời ghi chú nhỉ ? Có thể bằng cách đó, mỗi khi thương hiệu xuất hiện trong đầu sẽ gây được sự chú ý. Nhưng thật không may, bộ não của chúng ta không suy nghĩ bằng từ ngữ ! Một nghiên cứu của trường đại học Nevada có nội dung như sau: Các sinh viên sẽ viết vào giấy những gì họ suy nghĩ từng khoảng thời gian ngăn cách bằng một tiếng bíp, đã cho thấy rằng hầu hết thời gian bộ não không suy nghĩ bằng lời. Mỗi khi chúng ta ngưng lại để xem xét một vấn đề, chúng ta bắt đầu tìm kiếm những kinh nghiệm quá khứ trong trí nhớ của chúng ta. Và khi cuộc tìm kiếm đó bất thành, chúng ta bắt đầu cuộc tìm kiếm trong trí nhớ toàn cầu – mạng internet.

Vậy vấn đề nằm ở một từ khóa cho cuộc tìm kiếm. Nhưng trước hết, câu trả lời phải là làm sao cho quảng cáo thật khác biệt. Cuối cùng thị bộ óc của con người vẫn luôn luôn tìm kiếm cái mới và những thứ không ngờ tới.

Ngoài ra, phải làm cho nó luôn luôn đổi mới để giành lấy sự thu hút của mọi người và cố giữ lấy sự thu hút đó. Nhưng quảng cáo đâu chỉ đơn giản có vậy. Vậy là có một ý nghĩ khác nảy sinh: Người làm quảng cáo phải làm gì để người tiêu dùng không chỉ xem nó là “quảng cáo” mà còn ghi nhớ nó ? Chúng ta phải làm gì để thông tin được ghi nhớ và được tin tưởng, thông tin tạo ra là để đào sâu sự thỏa mãn của chúng ta và đơn giản hóa cuộc sống của chúng ta, chứ không phải tạo ra là để vứt bỏ ?

Vậy làm thế nào để tạo ra thông tin có tính truyền đạt tốt ? “chà, vậy sao người ta chỉ nhảy với điệu nhạc quen thuộc, có khi còn đeo cả tai nghe nữa. tôi muốn thử cái cảm giác đó”. Vậy thông tin phải được tạo ra như thế nào để có tính giáo dục ?

Tuần trước, khi tôi trở về nhà sau một buổi trình bày trước một khán phòng đầy ắp các nhân viên kinh doanh, tôi đã đọc lá thư điện tử này trong hộp thư của tôi:

“Tôi đã được nghe ông nói chuyện tuần trước. Thật là cao siêu và hài hước đấy! Nhưng tôi nghĩ các khái niệm và nguyên tắc mà ông đưa ra chỉ thích hợp với những người ra quyết định, CEO, người làm chủ và người tổ chức. Các nguyên tắc căn bản của ông chú trọng đến những gì mà những “ông lớn” đã làm sai và hoàn toàn không lắng nghe khách hàng. Thật khó cho tôi nếu phải đến năn nỉ khách hàng và nói “Tại vì lỗi của anh đấy thôi !”

Quảng cáo là sự chèo kéo !

Thế đấy ! Quảng cáo đúng là một sự chèo kéo. Thật sự quảng cáo đâu thể giúp người kinh doanh tạo được mối liên hệ sâu sắc hơn với khách hàng. Quảng cáo phải thay đổi, và phải thay đổi nhanh hơn nữa.

Chúng ta giữ những ý nghĩ trong đầu và thỉnh thoảng kiểm tra lại liệu đã có điều gì đó thay đổi và nếu chúng chẳng có gì thay đổi, chúng ta chỉ việc đặt chúng lại vị trí mà ta đã lấy nó ra. Chúng ta chỉ lại lấy chúng ra khi chúng ta tin rằng chúng cần được xem xét lại. Đó là chúng ta đã làm cho quảng cáo một cơ hội, nhưng lại cho chúng một chỗ rất nhỏ trong tâm trí cho dù chúng cố gắng phô trương với chúng ta. Rồi chúng sẽ bị quẳng ra ngoài nếu tâm trí chúng ta không còn chỗ chứa nữa.

Theo Saga

Quảng cáo trực tuyến: Sức mạnh tổng lực có một không hai

Chưa đầy 2 tháng qua, nhật báo hàng đầu nước Mỹ là Christian Science Monitor quyết định sẽ đình bản in hằng ngày; tạp chí US News & World Report cũng tuyên bố dừng bản in; tập đoàn truyền thông Tribune Co. (Mỹ) đệ đơn xin phá sản…

Tất cả đều có chung một nguyên nhân: sự cạnh tranh quyết liệt của báo mạng và trang thông tin điện tử Nguyễn Trung.

Hết thời “cát cứ”?

Một buổi sáng trung tuần tháng 12, truy cập vào địa chỉ Forbes.com, trên màn hình chào là một quảng cáo tràn trang của HP kết hợp với AT&T. Nếu người xem không click vào “Bỏ qua màn hình này để vào trang chủ” thì sau khoảng 5 giây, quảng cáo đó cũng tự biến mất, nhường chỗ cho trang chủ. Trên trang chủ của Forbes.com, có một số lượng hạn chế quảng cáo banner, logo, vài quảng cáo dạng “adwords”, và duy nhất một quảng cáo multimedia (cửa sổ video). Cùng lúc đó, nếu truy cập vào một báo điện tử có “máu mặt” trong nước, trên trang chủ của báo là một “nồi lẩu” những banner, logo đủ màu sắc, kích thước nhấp nháy, chưa kể đến hai hàng “floating banner” trôi dọc cửa sổ màn hình theo những cuộn chuột của người truy cập. Chỉ có banner và banner.

“Trong khi công nghệ và thực tế trên thế giới đã đi rất nhanh, thì ngành quảng cáo trực tuyến trong nước vẫn đang loay hoay với việc làm sao để bán được vị trí quảng cáo banner này, logo nọ. Phải nói rằng, nhiều báo điện tử và một số trang thông tin điện tử ở VN hiện nay có lượng khách truy cập không thua kém các trang mạng nước ngoài, nhưng lại vẫn “cát cứ” ở lãnh địa quảng cáo banner, sự mở rộng đang diễn ra chậm chạp” – ông Đàm Ngọc Thu – Giám đốc Trung tâm Truyền thông Ebiz Media (Hà Nội) cho biết.

Theo thống kê của Alexa.com, vị trí xếp hạng của Forbes.com (tại thời điểm của bài viết) là 442, đứng sau một số báo điện tử Việt Nam. Sở hữu một cộng đồng độc giả lớn, nhưng lại đơn điệu trong sản phẩm dịch vụ cung cấp là một sự lãng phí của các báo điện tử này. Tuy vậy, đã có một số tín hiệu cho thấy các báo mạng hướng tới dịch vụ quảng cáo đa phương tiện, như VnExpress hay Thanh Niên Online. Bên cạnh đó, sự nở rộ của nhiều trang thông tin điện tử và mạng xã hội với nhiều giao thức tương tác với người dùng cũng “góp gió” làm lung lay những lãnh địa “cát cứ” truyền thống.

Tổng lực

“Mạng xã hội, thế hệ ưu tú của web 2.0, đang có ưu thế lớn để tạo nên bước tiến đột phá trong ngành quảng cáo trực tuyến. Điểm mấu chốt trong kinh doanh dịch vụ trực tuyến là cộng đồng. Với nhiều công cụ giao tiếp và tương tác cao, mạng xã hội có khả năng gây dựng và phát triển cộng đồng nhanh chóng. Cũng chính từ các công cụ giao tiếp đó, mạng xã hội có thể phát triển một mô hình tạm gọi là “tổng lực quảng cáo trực tuyến”, gồm xuất bản trực tuyến, truyền hình trực tuyến, phát thanh trực tuyến, mạng hình ảnh và mạng giải trí – tất cả đều có thể lồng ghép các hình thức quảng bá và giao tiếp với đối tượng tiếp nhận”, ông Thu nói thêm.

Hãy tưởng tượng, bạn là một khách hàng tiềm năng và được chào mời dịch vụ từ một website gồm nhiều mảng nội dung (tab): “Ở tab tin tức (News), chúng tôi sẽ giới thiệu hình ảnh của quý vị dưới hình thức quảng cáo banner và text (bài viết PR, quảng cáo từ khóa…); ở tab Media, thương hiệu của quý vị được lồng ghép vào những video clip (hình ảnh + âm thanh) và file audio (âm thanh); ở tab Photo, chúng tôi sẽ đăng tải một loạt ảnh có chủ đề hướng tới những gì quý vị cần quảng bá ra công chúng; ở tab Game, chúng tôi sẽ xây dựng riêng một trò chơi đảm bảo khả năng thu hút cộng đồng trực tuyến và dĩ nhiên trò chơi đó không thể không liên quan tới quý vị. Sau cùng, chúng tôi cam kết những nội dung kể trên sẽ do cộng đồng – những khách hàng tiềm năng của quý vị – thực hiện và đăng tải lên website của chúng tôi”. Đó là công thức tổng các công cụ quảng cáo trực tuyến trong một địa chỉ và có chung nhiệm vụ quảng bá cho một thương hiệu. Và nhà cung cấp khả dĩ sẽ là các mạng ứng dụng công nghệ web 2.0.

Theo Doanh Nhân

Khi quảng cáo…vô duyên

Bạn đang xem một chương trình yêu thích, đột nhiên dòng chữ quảng cáo hiện ra, đoạn phim quảng cáo bắt đầu: Một cô gái đưa cái nhíp cho người yêu rồi nói: “Anh ơi giúp em với!” và phần kết của quảng cáo là một loại kem tẩy lông nào đó…

Khi quảng cáo …..vô duyên

Bạn đang xem một chương trình yêu thích, đột nhiên dòng chữ quảng cáo hiện ra, đoạn phim quảng cáo bắt đầu: Một cô gái đưa cái nhíp cho người yêu rồi nói: “Anh ơi giúp em với!” và phần kết của quảng cáo là một loại kem tẩy lông nào đó… Chưa dừng lại ở đó, khi bạn chuyển sang kênh khác thì cũng là lúc mà bạn đọc thấy dòng chữ “Bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực” với hình ảnh một người phụ nữ đang vuốt ve người đàn ông đang cởi trần với cơ bắp chẳng lấy gì là đẹp đẽ.

Hoặc trong một lúc khác, bạn đang ăn cơm với gia đình, loạt hình ảnh của một hãng sản xuất băng vệ sinh làm nghẹn miếng cơm của bạn, và tiếp theo đó là một loại thuốc đặc trị bệnh trĩ của một công ty dược nổi tiếng nhất nhì cả nước. Những câu chuyện trên không chỉ xảy ra trong ngày một ngày hai, nó đã và vẫn còn đang tiếp diễn, trở thành một đề tài mà người ta đề cập hàng ngày, đó là “Sự vô duyên của quảng cáo Việt Nam.”

Vô duyên đủ mọi đường

Năm 2006 được coi là một năm phát triển thành công của quảng cáo trên truyền hình tại Việt Nam, nhiều mẫu quảng cáo với ý tưởng đẹp đã được phát triển thành công, điển hình có thể nhắc đến P/S với “Cười lên Việt Nam ơi”, Vinaphone với “Không ngừng vươn xa”, Mobifone với “Mọi lúc, mọi nơi”…. Hầu hết các quảng cáo này đều được đầu tư với chi phí tốn kém , do các công ty quảng cáo chuyên nghiệp thực hiện một cách bài bản.

Tuy nhiên, không phải lúc nào chi phí cũng gắn liền với hiệu quả. Rất nhiều chiến dịch quảng cáo trên truyền hình đã vấp phải phản ứng tiêu cực từ phía khán giả. Trong số đó có thể kể đến quảng cáo “Tỉnh lại đi kưng” của Nescafe với giọng ngáp có giai điệu không thể bắt chước, nhiều khán giả xem xong đã có bình luận rằng “Hay mỗi cái là ngáp có giai điệu. Tui thử tập mãi không được”(?!). Quảng cáo của Rexona, theo một công ty nghiên cứu thị trường chuyên thu thập ý kiến về các quảng cáo, thì bị coi là quá vô duyên khi đề cập tới những khung cảnh “bốc mùi” thiếu tế nhị. Hoặc các đoạn phim “Andy đến Thành Phố Vải” của Comfort không lấy được nhiều thiện cảm của người tiêu dùng vì “Các nhân vật không phù hợp và quá xấu” …. Khoảng 10-16% số người được hỏi đã đưa ra ý kiến “không muốn xem lại quảng cáo lần thứ hai” và khoảng 5% bày tỏ ý định không muốn sử dụng sản phẩm.

Quảng cáo được thực hiện tốt có thể nâng hình ảnh của công ty và sản phẩm lên một tầm cao mới, nhưng ngược lại, một quảng cáo tồi lại có thể dìm nó xuống tận cùng của sự thất bại. Các nhà sản xuất quảng cáo sẽ nghĩ gì khi đứa con của mình làm ra lại bị đánh giá là “Con bé trong quảng cáo này nói năng vô phép kinh khủng…” ,“Mấy đứa lao công này nhảy nhót vớ vẩn quá..” hay là “Quảng cáo loại thuốc này mất vệ sinh thật…” , khi người tiêu dùng đã đánh giá với một thái độ thiều thiện cảm về quảng cáo, họ hoàn toàn có thể loại bỏ luôn cả sản phẩm, khi đó doanh nghiệp sẽ phải làm một việc mà chẳng ai muốn làm , đó là “Giải quyết hậu quả sau quảng cáo” . Rất nhiều công ty đã phải ngay lập tức đưa ra hình ảnh quảng cáo mới hay thậm chí, phải tổ chức cả các buổi họp báo đề thanh minh cho những lỗi vô duyên ngớ ngẩn khi sản phẩm họ được phát trên truyền hình.

Sự vô duyên trong nội dung còn được thể hiện trong việc thực hiện ý tưởng trong quảng cáo, một số quảng cáo có ý tưởng khá tốt nhưng lại được thực hiện tồi, ví dụ như “Rác là tài nguyên quý giá” có phần thể hiện các cô gái lao công thái quá và hơi phản cảm. Ngay cả quảng cáo của Café Trung Nguyên với ý tưởng cao đẹp về thương hiệu Việt nhưng lại vấp phải phần thể hiện hình ảnh chưa đạt hiệu quả. Một số quảng cáo khác vừa không thành công về mặt ý tưởng và phần trình bày quá rườm rà, đáng buồn là nó lại tập trung vào các quảng cáo của các sản phẩm của Việt Nam, điển hình là các sản phẩm Đông Y (Đại tràng hoàn, Kiện não hoàn…)

Lỗi vô duyên lại không của riêng doanh nghiệp mà còn thể hiện ở việc phát sóng. Trước đây quảng cáo trên truyền hình thường được tiến hành theo kiểu “cắt ngang”, nghĩa là đúng đến đoạn hay của chương trình hoặc các đoạn nghỉ là lập tức có quảng cáo chèn vào. Bây giờ thì nhà đài lịch sự hơn, cho hiện ra dòng “Chương trình quảng cáo”, nhưng thời lượng quảng cáo thì lại tăng lên, người xem kiên nhẫn lắm thì chỉ ngồi tiếp được khoảng 1-2 phút là nhiều, còn đa số là lập tức chuyển sang các chương trình khác.

Khi mà khán giả đã quá bức xúc với chuyện bị bắt ép xem quảng cáo thì hiệu ứng tiêu cực là điều đương nhiên, sức mạnh của quảng cáo ngày càng bị suy giảm, các công ty muốn đạt hiệu ứng tốt lại phải tăng tần suất chiếu quảng cáo và điều này lại làm cho khán giả cảm thấy chán chường hơn nữa.

Làm thế nào để chữa bệnh vô duyên?

Một phim quảng cáo, muốn thành công, đòi hỏi sự kết hợp của rất nhiều yếu tố. Tại sao không thuê một đạo diễn thật giỏi, vừa có đầu óc kinh tế và kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo”. Diễn viên tuy không đòi hỏi phải có trình độ diễn xuất cỡ Tom Hanks hay Julia Roberts mà chỉ cần có một ít khả năng và quan trọng hơn hết là một ngoại hình phù hợp. Yếu tố quan trọng cuối cùng, và cũng là quan trọng nhất quyết định sự thành-bại của phim quảng cáo chính là sự sáng tạo. Thiếu điều này, một đoạn phim quảng cáo sẽ bị quên lãng một cách nhanh chóng vì cứ đi vào lối mòn của sự thiếu ý tưởng.

Đành rằng quảng cáo thì phải có cái hay cái dở nhưng đề cái dở trở thành những hạt sạn, va chạm cả đến văn hóa là điều khó chấp nhận. Các doanh nghiệp muốn có một chương trình quảng cáo tốt cần phải có một chiến lược cụ thể, họ phải biết được đối tượng quảng cáo của mình là những ai, nội dung mà họ muốn giới thiệu tới khách hàng là gì và cuối cùng, họ phải có một tầm nhìn lâu dài cho việc thực hiện quảng cáo của công ty cũng như phải tôn trọng khách hàng của họ.

Để thực hiện được một mẫu quảng cáo tốt thì bản thân công ty đó phải liên kết chặt chẽ với các đơn vị thực hiện quảng cáo, từ việc xây dựng nội dung, truyền đạt ý tưởng cho đến việc trau chuốt hình ảnh thể hiện và cân nhắc tần suất phát sóng. Sự khác biệt giữa một quảng cáo hữu ích và một quảng cáo vô bổ đôi khi bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt nhất mà công ty đã bỏ qua. Vinaphone và Mobifone đã rất thành công trong việc cải thiện hình ảnh và đưa ra thông tin những cuộc khuyến mãi rầm rộ, theo một bài báo gần đây thì số lượng thuê bao của Vinaphone đã tăng lên khoảng 6 triệu thuê bao và Mobifone là 9 triệu thuê bao, đặc biệt quảng cáo Vinaphone được thực hiện đồng bộ và đưa ra được nhiều ý tưởng sâu sắc. Ngoài ra Nutifood, Izzi hay “Ngôi sao phương Nam” của Vinamilk cũng nằm trong số các sản phẩm gây được thiện cảm qua các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Đó là minh chứng cho một số công ty đã thực hiện quảng cáo một cách cẩn trọng và nghiêm túc, thành công không những được thể hiện ở doanh số bán tăng lên mà còn thể hiện ở việc cải thiện hình ảnh thương hiệu đối với các khách hàng mục tiêu.

Theo thống kê của Hiệp hội quảng cáo, Việt Nam có hơn 1.000 công ty quảng cáo, tuy nhiên chỉ có 10 trong số này là thực sự chuyên nghiệp và chỉ có 5 công ty mang tầm quốc tế. Trình độ tay nghề nói chung thấp, điều này phản ánh vì sao mà các công ty cũng phải rất khó khăn khi lựa chọn một nhà quảng cáo chuyên nghiệp. Một nhà quảng cáo truyền hình chuyên nghiệp thường thuê những đạo diễn có kinh nghiệm trong việc sản xuất chương trình quảng cáo và có đội ngũ êkip thực hiện tốt phần hiệu ứng của quảng cáo, điều này sẽ giúp rất nhiều cho chiến dịch quảng cáo của doanh nghiệp đó.

Các công ty phải nhận thức được rằng quảng cáo truyền hình là một trong những cách nhanh nhất để đến với thị trường và bành trướng công việc kinh doanh, nó cũng có thể là cách nhanh nhất khiến công ty bị đẩy ra khỏi thị trường đó. Việc rà soát nội dung một cách chặt chẽ với hình thức thể hiện chân thực và sống động sẽ là cách thức dễ dàng nhất đề gây thiện cảm đối với khách hàng. Và cuối cùng, để thay cho lời kết , các công ty có thể tham khảo nhận định của một chuyên gia trong lĩnh vực quảng cáo nói rằng “Một nhãn hiệu sẽ lan toả và được nhiều người biết đến, nếu một công ty tạo ra được yếu tố đặc sắc và sáng tạo đậm chất nghệ thuật và trí tuệ trong các quảng cáo, nhờ đó, sự độc đáo và lôi cuốn sẽ bắt nguồn từ những điều giản dị nhất . Với quảng cáo, chỉ có một cách là hãy sáng tạo nhiều hơn!!!”

Theo Tạp chí Thành Đạt

Nhấn mạnh tính cách thương hiệu trong quảng cáo

Để cạnh tranh trên thị trường, các thương hiệu cần phải nhấn mạnh đến yếu tố cá tính và bản sắc. Tính cách thương hiệu có thể giúp tăng (hoặc giảm) hình ảnh doanh nghiệp trong trí nhớ của khách hàng mục tiêu.

Nếu bạn còn nghi ngờ về điều này thì hãy nhìn vào những “ông lớn” như Harley-Davidson, Coca-Cola, Nike, Apple và nhiều thương hiệu huyền thoại khác. Một trong những điều có thể chia sẻ với những thương hiệu kém tiếng tăm hơn là mỗi trong số chúng đều có khách hàng riêng biệt.

Tại sao? Bởi vì mỗi thương hiệu lớn đều có tính cách riêng biệt và mỗi khách hàng của họ được nhận ra rõ ràng. Nhờ sự cống hiến hết mình của các doanh nghiệp trong việc xây dựng thương hiệu, các khách hàng đã chuyển từ một khách hàng đơn giản đến những người trung thành với thương hiệu….và sẵn sàng chi tiền cho chính sự trung thành đó.

Và trong hầu hết các trường hợp, quảng cáo vừa phản ánh, vừa chỉ rõ thương hiệu của họ. Những công ty này đều hiểu được giá trị của tính cách thương hiệu và đang chi hàng nghìn đô la để phát triển, duy trì nó.

Tính cách của một vài thương hiệu mạnh:

Pepsi – Tính cách thể thao

Nutifood – Tính cách gia đình

Yomost – Tính cách ưa mạo hiểm

Viso – Tính cách người nội trợ đảm đang

Samsung – Tính cách ưa đổi mới

La vie – Tính cách gần gũi thiên nhiên

Kotex – Tính cách năng động, sôi nổi

Tuy nhiên, có thể bạn không có hàng nghìn đô chi phí cho quảng cáo nhưng bạn sẽ làm gì để chắc chắn rằng quảng cáo phản ánh đặc điểm sản phẩm và xây dựng được thương hiệu của mình?

Có 5 thành phần hợp thành để nhận ra những tính cách trong quảng cáo thương hiệu.

1. Ý niệm. Đây bao quát toàn bộ ý tưởng quảng cáo của bạn. Đâu là lợi ích chính mà bạn muốn mang tới cho khách hàng triển vọng?

2. Giọng điệu trong quảng cáo. Quảng cáo của bạn hài hước, nghiêm túc, tao nhã hay thoải mái? Giọng của quảng cáo cần phản ánh được bạn là ai mà bạn muốn là ai.

3. Đặt mục tiêu và mở rộng sự tương tác về thị giác. Sản phẩm của bạn có kết hợp chặt chẽ được giữa kiểu dáng, hình mẫu với ý tưởng của quảng cáo không?

4. Những thiết kế quảng cáo của bạn là gì? Thiết kế toàn diện của quảng cáo phải thể hiện rõ đặc điểm của sản phẩm, nó được thiết kế gọn gàng, lộn xộn, lịch sự hay thân thiện? Hiện đại, đơn giản hay tao nhã? Và bạn muốn tạo ấn tượng gì với khách hàng?

5. Lời quảng cáo như thế nào? Nếu bạn muốn thể hiện sự chân thực và thân thiện trong các thông điệp quảng cáo của mình thì bạn cần phải biết chính xác mình viết chúng như thế nào. Viết lời quảng cáo giống như là bạn đang nói chuyện với một người bạn chứ không phải giống như là cố gắng tạo ấn tượng với giáo viên của mình.

Hiền Trang

Theo Businessknowhow

Tại sao quảng cáo trên điện thoại di động không học từ trực tuyến?

Quảng cáo trên điện thoại di động được xem là phức tạp hơn quảng cáo trực tuyến bởi những tiêu chuẩn luôn luôn phải tốt nhất.

Quảng cáo trực tuyến phát triển được là nhờ những tấm bảng quảng cáo cho phép các công ty có thể ghi lại và đánh giá chiến dịch trong thời điểm thực. Tại sao quảng cáo trên điện thoại di động không làm được điều này?

Những nhà sản xuất quảng cáo trực tuyến kết hợp một máy chủ quảng cáo thông qua site của họ và nó hoạt động như là một máy chủ kiểm soát quảng cáo và quản lý phức hợp mạng lưới và nhóm bán hàng. Tại sao quảng cáo di động không làm được điều này?

Trả lời những câu hỏi này và áp dụng những bài học từ quảng cáo trực tuyến cho quảng cáo trên điện thoại di động sẽ giúp nó dễ dàng định hướng hơn và cho phép nó chiếm một chỗ đứng trong thế giới số.

Hãy nói về hệ thống tìm kiếm

Hầu hết các máy chủ phục vụ quảng cáo trên điện thoại di động đều có các hệ thống phát hiện, cho phép nhà sản xuất hoặc mạng để nhắm tới các chiến dịch bằng thiết bị và người mang.

Điều này có nghĩa là nền tảng quảng cáo cần phải có một thư viên các thiết bị được cập nhật để có thể được giải quyết trong thời điểm thực sự nhằm phục vụ cho các kích cỡ quảng cáo. Trong khi điều này không tạo nên được sự tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực di động thì hệ thống tìm kiếm này cung cấp một trải nghiệm quảng cáo tích cực.

Bây giờ hãy nghĩ về những đại lý cho tấm biển quảng cáo

Các công ty có tính tương tác sử dụng hệ thống các tấm biến (ví dụ như Atlas hay DoubleClick) để quản lý, đánh giá và trình lên các chiến dịch quảng cáo trực tuyến của họ thông qua các site và mạng. Những việc này trong thế giới online được thực hiện bởi bên thứ ba là những máy chủ quảng cáo. (Ringleader Digital, nơi tôi làm việc có vai trò như là một bên thứ ba, máy chủ quảng cáo trong không gian mobile).

Atlas, 24/7, Real Media, DoubleClick và các máy chủ quảng cáo trực tuyến di động khác có sử dụng sự phục vụ quảng cáo của bên thứ ba không? Tất nhiên là có, bởi vì nó dễ đo lường, linh hoạt và chắc chắn.

Thực tế, sự phục vụ của bên thứ ba là một tiêu chuẩn trực tuyến. Vì thế, tại sao lại có sự liên kết xoay vòng như vậy trong không gian di động? Nếu các đại lý muốn điều khiển việc mua bán của họ ở thời điểm thực thì họ cần thực thi sự phục vụ của bên quảng cáo di động thứ ba.

Tại sao máy chủ quảng cáo vẫn không có trong di động?

Trong suốt thời kỳ đen tối của trực tuyến, các dịch vụ quảng cáo dựa trên một nền tảng “server side include” (SSI) nhưng sau đó nó bị hủy bỏ nhanh chóng bởi vì hoạt động không hiệu quả. Bây giờ, quảng cáo trực tuyến thành công bởi mạng quảng cáo đa dạng được quản lý bởi một máy chủ quảng cáo đơn lẻ.

Đúng hơn là khi bắt đầu, tất cả những người hoạt động trong không gian di động cần học hỏi xu hướng của trực tuyến. Thay vì sử dụng những quy tắc khác nhau để quản lý vài mạng lấp đầy bản thống kê, một mạng phục vụ quảng cáo của bên thứ ba có thể quản lý bảng thống kê thông qua tấm bảng, làm đơn giản hóa toàn bộ tiến trình quảng cáo di động.

Một vài suy nghĩ cuối…

Những chiếc máy tính đồ sộ bị giới hạn về chức năng, đồ họa nghèo nàn và kết nối internet chậm chạp. Theo thời gian, những chiếc máy tính nhỏ ra đời với cấu hình cao, đồ họa rõ nét, dung lượng lớn và kết nối internet nhanh chóng.

Quảng cáo di động bắt đầu với những chiếc điện thoại cầm tay to như chiếc hộp giầy và nghèo nàn về chức năng, rồi dần dần chúng cũng được thay thế bằng những chiếc điện thoại di động thông minh. Quảng cáo trên điện thoại di động cũng bắt đầu với một hệ thống phức hợp của SSI và phát triển hướng tới một mô hình thành công của sự phục vụ bên thứ ba.

Bằng cách biết và hiểu những bài học và xu hướng của trực tuyến, mạng dịch vụ quảng cáo di động đã sẵn sàng và chờ đến thời điểm tỏa sáng.

Hiền Trang

Theo MarketingProfs

Tiêu tiền khôn ngoan cho chiến dịch quảng cáo

Ông Roopam Garg – Giám đốc điều hành tập đoàn Pubilcis Groupe Media Việt Nam phân tích tình hình hiện tại cũng như gợi ý các giải pháp tối ưu hóa việc chỉ tiêu quảng cáo truyền thông tại Việt Nam. Cho dù thị trường có được làm nóng hay không thì vẫn sẽ có một sự điều chỉnh sắp xảy ra.


Ở đây tôi không nói đến tình hình thị trường chứng khoán mà tôi đang đề cập tới việc đầu tư vào quảng cáo truyền thông. Các nhà quảng cáo đầu tư vào hình thức này nhằm mục đích đạt được thị phần nhiều hơn và gia tăng lượng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của họ, từ đó dẫn đến việc mở rộng quy mô ngành hàng. Điều này sẽ thúc đẩy cho sự phát triển của ngành bán lẻ Việt Nam.

Tình hình thực tế

Các nhãn hàng ngày càng tăng đầu tư vào truyền thông tại thị trường Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng hiện tại được xem như là một hiện tượng so với nhiều quốc gia khác trong khu vực. Năm 2009, trong khi hầu hết các nước, thị trường quảng cáo có mức tăng trưởng khiêm tốn hoặc suy giảm, thì thị trường Việt Nam vẫn giữ mức tăng trưởng tương đương với năm vừa qua.

Có đầy đủ cơ sở hợp lý để chứng minh cho điều này hay chỉ là sự suy xét chủ quan?

Câu trả lời cho câu hỏi này được bắt đầu từ việc xem xét chỉ số so sánh giữa mức tiêu thụ nội địa và tổng sản phẩm nội địa (ví dụ như chỉ số GDP của quốc gia). Tỷ lệ tiêu thụ nội địa của sản phẩm nội địa tại Ấn Độ là 57%, Thái Lan 54%, Malaysia 52%, Trung Quốc 37% và Việt Nam 36%. Sự phát triển của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu để phát triển kinh tế.

Hiện nay, ngành quảng cáo tại Trung Quốc chi hơn 25 tỷ USD/năm, điều này có nghĩa là ngành quảng cáo chiếm khoảng 1,54% tổng tiêu thụ nội địa. Tương tự đối với ngành quảng cáo tại Việt Nam. Điều này cho thấy thị trường đang gần chạm đến ngưỡng. Các nhà quảng cáo sẽ gặp khó khăn trong việc tăng chi tiêu quảng cáo như họ đã thực hiện trong 5 năm qua. Chỉ khi tiêu dùng nội địa tăng lên thì các nhãn hàng mới có thể tăng thêm chi tiêu vào quảng cáo.

Có thể quan sát thấy, trong 3 năm qua tỷ lệ tăng trưởng chi tiêu cho quảng cáo đã có sự suy giảm mạnh (biểu đồ). Cần lưu ý rằng, các số liệu trong biểu đồ được trích từ báo cáo nghiên cứu của TNS. Báo cáo này không bao gồm nhóm “SMS và trò chơi tương tác”, quảng cáo ngoài trời và kỹ thuật số. Số liệu này dựa trên hình thức truyền thông truyền thống TV, báo và radio.

Trong năm 2009, mức tăng chi tiêu được ghi nhận tương đương với mức tăng trưởng của năm trước. Tuy nhiên chi phí này được tính dựa trên bảng giá quảng cáo gốc, nó chưa được trừ đi mức giảm giá chiết khấu vốn cao hơn rất nhiều so với bất kỳ năm nào trong 3 năm vừa qua.

Giải pháp cho thách thức

Mỗi đô la cần phải được chi tiêu cẩn trọng hơn, và thông qua quy trình lên kế hoạch truyền thông tối ưu hóa hơn so với những năm trước. Các công ty truyền thông cần phải tiếp tục hoạt động nỗ lực và hiệu quả hơn. Tối ưu hóa các kế hoạch truyền thông là vô cùng quan trọng để đạt mục tiêu này.

Việc thực hiện tối ưu này là cần thiết hơn hết, trên cả mức giảm giá chiết khấu. Ngày nay, sự tối ưu hóa trở nên cấp bách hơn khi mà môi trường truyền thông tại Việt Nam thay đổi nhanh chóng trong những năm vừa qua. Chẳng hạn như có nhiều lựa chọn hơn cho các kênh TV so với những năm trước. Trong năm 2009, khi phương pháp peoplemeter được thiết lập để đo lường lượng khán giả xem truyền hình thì các kênh truyền hình được lựa chọn đã tăng lên theo cấp số nhân, điều này bắt buộc người lập kế hoạch truyền thông phải có kế hoạch tối ưu hóa. Càng nhiều sự lựa chọn thì phương thức tối ưu hóa thủ công càng không thể đưa ra một kế hoạch tối ưu tốt nhất cho nhãn hàng. Ngoài ra, phương thức tối ưu hoá thủ công gặp nhiều thách thức hơn khi phải đưa ra nhiều kế hoạch khác nhau để lựa chọn với tốc độ và hiệu quả cao.

Công ty truyền thông của chúng tôi đã có một sự chuyển đổi từ việc sử dụng công cụ tối ưu hóa thủ công sang công cụ hiện đại hơn có tên gọi là “Miser”, được kích hoạt dựa trên dữ liệu cơ bản của TNS và lập ra kế hoạch tối ưu. Công cụ này có thể đưa ra nhiều kế hoạch tối ưu cho một chiến dịch quảng cáo của khách hàng trong thời gian ngắn mà vẫn đảm bảo chất lượng cho từng kế hoạch. Những nhà quảng cáo có nhiều lựa chọn hơn để xem xét trước khi đưa ra quyết định chọn kế hoạch nào thích hợp với mục đích cụ thể của chiến dịch quảng cáo. Điều này là kết quả tất yếu của sự lựa chọn dựa trên việc tối ưu hóa và CPRP thấp nhất. Qua đó, nhà quảng cáo cũng có thể đưa ra sự lựa chọn hiệu quả và hiểu rõ việc chi trả “vị trí ưu tiên” so với kế hoạch có CPRP thấp nhất. Tùy thuộc vào mục tiêu của chiến dịch quảng cáo, khách hàng có thể đưa ra quyết định cùng với các đơn vị truyền thông của họ.

Các nhà quảng cáo cần xem xét hiệu quả của những kế hoạch dựa trên ít nhất là hai chỉ tiêu đo lường, ví dụ CPRP hoặc mức giảm giá. Nếu chỉ xem xét trên một góc độ nào đó thì kết quả đạt được có thể không như mong muốn, chẳng hạn như sự tăng trưởng của nhãn hàng.

Theo DĐDN

Quảng cáo “bắt mắt” nhìn đi đâu?

Quảng cáo trên mạng internet không còn xa lạ, chúng ta dễ dàng nhìn thấy những mẩu quảng cáo này hàng ngày trên nhiều trang web khác nhau. Tuy nhiên, những phát hiện trong một số nghiên cứu có thể khiến nhiều người ngạc nhiên: độc giả chú ý nhiều hơn đến những quảng cáo đơn giản, điều mà đến chính các nhà quảng cáo vẫn nhầm lẫn.


Phương pháp đánh giá mới

Bạn nghĩ rằng bạn có xu hướng quan tâm đến một quảng cáo trên mạng nếu nó có chứa đựng các nội dung nào sau đây? 1. một bức tranh,;2. một hình ảnh động; 3. chỉ chứa văn bản? Câu trả lời thật bất ngờ: chỉ chứa văn bản. Chúng ta hãy xem xét trường hợp một người đàn ông kiểm tra hộp thư điện tử của mình mà qua một quảng cáo dịch vụ hẹn hò có đưa ra một bức ảnh của một phụ nữ mặc đồ tắm. Người đàn ông này chỉ nhìn vào bức ảnh một lần và đọc các dòng chữ quanh bức ảnh đến năm lần.

Mạng Internet đã mở ra một thế giới mới đầy hứa hẹn cho những người mà công việc cần chi nhiều tiền cho quảng cáo. Khả năng theo dõi vị trí mà độc giả của các trang web nhấp chuột vào xem đã cung cấp một loại tình báo chính xác mà các nhà quảng cáo trong nhiều thập kỉ qua chỉ biết mơ ước. Tuy nhiên khi xem xét vấn đề và theo một bản báo cáo gần đây thì các nhà quảng cáo thường nhìn nhận sai lầm về những điều đã thu hút độc giả.

Những phát hiện này được đưa ra trong một chương của một cuốn sách mới có tên gọi “Eyetracking Web Usability” ( Tính khả dụng của các trang web bắt mắt) của hai tác giả Jakob Nielsen và Kara Pernice của tập đoàn tư vấn Nielsen Norman. Đừng để cho tiêu đề đầy hấp dẫn đánh lừa bạn: điều mà hai tác giả Nielsen và Pernice đã làm là lần theo thị hiếu của hàng trăm người khi họ lướt web tìm kiếm lời khuyên về những vấn đề thường ngày như bị ợ nóng, mua quà cho trẻ, các tính năng của điện thoại hay học về Mikhail Baryshnikov. Chỉ bằng cách rọi tia hồng ngoại vào nhãn cầu của một người và ghi lại các cử động của đầu bằng một máy camera, các nhà khoa học đã có thể suy luận được sự chú ý của các kiểu tinh thể đến những quảng cáo trong thời gian thực. Đây là một phương pháp lướt qua một vòng quanh sau đó yêu cầu mọi người nhớ lại những gì đã thấy.

Quảng cáo bắt mắt không được chú ý nhiều hơn

Kết quả về tiêu đề: càng đơn giản càng tốt (không bàn về vần đề tốn ít kinh phí hơn). Kết quả điều tra những người tham gia nghiên cứu này cho thấy 52% quảng cáo chỉ chứa kí tự văn bản, 52% quảng cáo có chứa hình ảnh và văn bản tách biệt nhau và 51% các đường dẫn trên các trang công cụ tra cứu được độc giả chú ý đến. Quảng cáo nhận được ít sự quan tâm hơn thường là những quảng cáo có văn bản trên đầu hình ảnh (chỉ có 35% người xem) và tiếp đó là các quảng cáo có chứa hình ảnh động (có vẻ như chỉ là phong trào để thu hút sự chú ý, và lượng người xem những quảng cáo này chỉ chiếm 29%).

Ngày nay, việc xem quảng cáo và việc nhận thức dù chỉ mơ hồ về nó là hai việc hoàn toàn khác nhau. Có rất nhiều thứ đi qua tầm nhìn ngoại vi của chúng ta, nhưng do cách thức hoạt động của mắt mà chúng ta chỉ có thể nhìn rõ những thứ mà chúng ta cố ý dừng lại và quan sát. Theo phương pháp đó, những người được nghiên cứu chú ý tới 36% các quảng cáo trên các trang web mà họ ghé thăm, đây rõ ràng không phải là một tỉ lệ quá tồi. Tuy nhiên khoảng thời gian trung bình mà một người chú ý đến một mẩu quảng cáo là rất ngắn, chỉ khoảng một phần ba giây.

Đơn giản là chìa khoá của thành công

Một điều thú vị là những người chỉ lướt web thì chỉ nhìn thấy khoảng 5% những quảng cáo có trên các trang này trong khi những người cố gắng tìm kiếm cho một mục đích cụ thể có xu hướng chú ý đến quảng cáo nhiều hơn. Thậm chí khi độc giả đang cần tìm kiếm gì đó, họ cũng khá sẵn sàng dừng lại và chú ý đến một mẩu quảng cáo. Tuy nhiên cũng có những trang web mà các quảng cáo không được đăng kí trên đó như các trang web được xây dựng quanh các công cụ tìm kiếm, như Think Mapquest hay Expedia. Đóng góp của Google cho các khoảng trống là để dành chỗ cho những các trang chủ có thể thiết kế đẹp mắt, hoặc có gì đó để biết rằng không ai có thể tìm thấy một quảng cáo nào trên trang web đó.

Và sau đó là một kết quả làm tất cả các nhà nghiên cứu phải ngạc nhiên: các quảng cáo chỉ chứa chữ lại được nhiều người chú ý nhất. Một phần có thể là do chúng ta ngẫu nhiên nghĩ rằng có thể những quảng cáo đầy chữ đó có chứa thông tin mà ta đang tìm kiếm. Tuy nhiên theo cách giải thích của tác giả Nielsen thì các trang web có thể tự phát huy bản chất của nó. Không giống như truyền hình, một phương tiện truyền thông bị động, các trang web cần sử dụng các thao tác như tìm kiếm, nhấp chuột, đăng kí, mua bản quyền, tải tài liệu. Đó chỉ có thể là khi mà chúng ta sử dụng mạng internet, chúng ta bị lôi cuốn bởi những nội dung mà chúng ta cần tìm kiếm, tất cả những gì chúng ta cần đều có trên mạng internet.

Đó có thể là một trong những lí do vì sao người đàn ông mà ta nhắc đến ở đoạn đầu trong dịch vụ hẹn hò lại chỉ nhìn thoáng qua hình dáng người phụ nữ và xem xét kĩ đến những đoạn miêu tả quanh bức ảnh. Ông Nielsen cho rằng “Thậm chí trong trường hợp như thế này thì những thông tin có thực bao giờ cũng là điểm mạnh nhất”. Có thể là kì cục, nhưng phương thức để thu hút sự chú ý của độc giả mạng chính là hãy làm cho quảng cáo trở nên đơn giản đối với họ.

Theo Tuanvietnam

Sáng tạo quảng cáo – Concept hay Execution?

Bắt tay vào thực hiện 1 quảng cáo, ai cũng muốn xây dựng một thiết kế độc đáo, sáng tạo, ấn tượng và quan trọng hơn hết là đạt được mục đích truyền tải đến đối tượng người tiêu dùng mục tiêu. Nhưng vừa bước chân vào ngành quảng cáo không phải ai cũng có cơ hội làm việc tại các công ty lớn chuyên nghiệp, có quy trình làm việc sáng tạo và hiệu quả, được training kỹ lưỡng…


Đôi khi chúng ta phải tự lực tìm kinh nghiệm, kiêm nhiệm giải quyết công việc với áp lực phải đưa ra được sự độc đáo thuyết phục được khách hàng đặt niềm tin vào chúng ta để đưa sản phẩm của họ cạnh tranh trên thị trường. Quan trọng hơn, chúng ta phải bảo vệ được ý tưởng đó là của riêng mình, khiến khách hàng không thể đem đi cho bất cứ công ty quảng cáo nào khác thực hiện được. Vậy với những áp lực đó, chúng ta phải bắt đầu từ đâu?
Nếu chưa quen với cách làm việc chuyên nghiệp trong ngành quảng cáo, khi lên kế hoạch cho 1 quảng cáo, sau khi nghiên cứu sản phẩm, dựa vào bản yêu cầu sáng tạo của khách hàng (creative brief), ta thuờng bắt đầu từ việc xây dựng nội dung (kịch bản nêu à TVC, hình ảnh, chữ nghĩa nếu là Print ad…). Qua những thông tin của nghiên cứu thị trường, từ khách hàng, từ những đặc tính sản phẩm, ta có thể xây dựng được rất nhiều tình huống, hình ảnh cho các kịch bản này, phát triển thành những story board trình khách hàng. Đó là những điều ta vẫn thường làm. Nhưng với cách đó, một ngày ta có thể dựng được bao nhiêu story board, và trong những kịch bản đó, cái nào sẽ là cái được chọn? Và điều gì bảo đảm sau khi xem xong kịch bản bằng hình (dễ hiểu, dễ nhớ), việc thực hiện và hợp đồng sẽ không rơi vào tay 1 công ty quảng cáo khác (với chi phí thấp hơn nhiều vì phần nội dung đã có sẵn)? Vậy cái mà chúng ta xây dựng từ đầu, từ việc lên kịch bản, xây dựng các tình huống, nhân vật cho quảng cáo, là gì? có gọi là 1 concept cho quảng cáo hay không? 1 kịch bản cho TVC, 1 print ad, hay 1 ấn phẩm quảng cáo có giá trị đều là 1 hình thức thể hiện (execution), quảng bá cho sản phẩm, thương hiệu với 1 mục đích rõ ràng (nó vượt trội ra sao? khác biệt chỗ nào? đáng giá chỗ nào? tại sao xem xong người ta phải mua? v.v..). Vì vậy, nó luôn bao hàm 1 concept. Có những đoạn phim phức tạp, tốn kém hay sử dụng những hình ảnh ấn tượng, bất thường, đuợc dàn dựng rất công phu chỉ để nói lên concept được gói gọn trong 1 từ, hay 1 ý nghĩa đơn giản và gần gũi. Nhưng 1 concept thì có thể được thể hiện bằng hàng trăm cách khác nhau. Nói cách khác, khi ta có được 1 concept, ta có thể phát triển ra hàng trăm execution khác nhau là cái thành phẩm hoàn chỉnh mà ta tung ra trước người tiêu dùng.
Vậy cái ta cần khi thực hiện, phải luôn bắt đầu từ concept. 1 buổi ta có thể vẽ được khoảng 7 story board, dựng được chừng hơn 10 kịch bản phác thảo, rồi để hoàn chỉnh, mất bao nhiêu? với quãng thời gian đó, ta tìm được bao nhiêu concept? ít lắm có thể 3, từ 3 cái cơ bản đó, ta sẽ có được bao nhiêu cách thể hiện? hàng chục, hàng trăm cách mang tính nhất quán trong ý tưởng và tính cách, hình tượng để hình thành 1 compaign cho 1 chiến luợc quảng bá thuơng hiệu lâu dài – thật hiệu quả và khá dễ dàng. Vậy đừng lầm lẫn giữa xây dựng concept và execution (design).
Trước khi ta bán design cho khách hàng, cái ta cần bán cho họ là concept. Nếu chỉ có concept là cái chỉ có người tìm ra nó là hiểu rõ nhất, khách hàng không thể đem đi đến cho 1 công ty khác thực hiện. Vì vậy, concept là cái để các công ty quảng cáo chuyên nghiệp vắt kiệt sức sáng tạo của những người creative, là cái khách hàng luôn đòi hỏi, quảng cáo sáng tạo luôn đòi hỏi. Chính vì vậy người ta vẫn nói bất cứ ai cũng có thể làm quảng cáo hiệu quả, không cần nền tảng của mỹ thuật hay kiến thức marketing, vì đơn giản bất cứ ai cũng có thể tìm ra concept.
1 concept hiệu quả thường phải bao gồm các yếu tố:
S = Specific (rõ ràng)
M = Measurable (vừa phải)
A = Attactive (hấp dẫn)
R = Relevant (gần gũi)
T = Timing (đúng lúc)
Tuy yêu cầu khắt khe và luôn đòi hỏi sự mới lạ, độc đáo, nhưng concept rất cô đọng và đơn giản, có thể chỉ là 1 từ, 1 dòng chữ ngắn. Nó không phải slogan vì slogan là tính cách thương hiệu, tiêu chí thương hiệu, duy trì qua năm tháng. Concept như những chiếc áo của 1 con người thương hiệu duy nhất. Con người đó ra sao thì sẽ chọn những chiếc áo đúng với mình, hợp với dáng mình, còn chuyện nó dài chừng nào, màu mè ra sao, mỏng hay dày lại là chuyện của design .
Một người creative giỏi tùy thuộc vào sự thấu hiểu và hoà nhập với rất nhiều con người thương hiệu, với những cá tính đặc biệt nhất định luôn đi tìm cách thể hiện mình. Và để thể hiện hiệu quả, ấn tượng, thẩm mỹ thế nào mới là công việc của designer.
Theo zidean.com

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

Sôi động quảng cáo ngoài trời

Theo một kết quả khảo sát của Công ty Nghiên cứu thị trường TNS, có đến 80% dân số TPHCM thích đi lại ngoài đường. Với số liệu này, có thể dễ dàng hiểu vì sao thời gian gần đây, hoạt động quảng cáo ngoài trời trở nên sôi động hơn.Trước nay, mỗi khi nghe nói tới quảng cáo ngoài trời, nhiều người nghĩ ngay đến những bảng quảng cáo kích thước lớn trên các nóc nhà, bức tường bên ngoài các tòa nhà cao tầng, dọc các xa lộ, bờ sông…


Khái niệm mới
Trước nay, mỗi khi nghe nói tới quảng cáo ngoài trời, nhiều người nghĩ ngay đến những bảng quảng cáo kích thước lớn trên các nóc nhà, bức tường bên ngoài các tòa nhà cao tầng, dọc các xa lộ, bờ sông… Đây là một trong những loại hình quảng cáo ngoài trời truyền thống, được dân trong nghề gọi là “billboard”. Tuy nhiên, theo một khái niệm mới, quảng cáo ngoài trời được hiểu là “out of home” (OOH), tức tất cả các loại hình quảng cáo tác động đến người tiêu dùng khi họ bước ra bên ngoài ngôi nhà đang sống. Theo khái niệm này, nhiều loại hình quảng cáo dù là “indoor” nhưng vẫn được xếp vào “outdoor”, ví dụ quảng cáo trong thang máy, trong siêu thị, trong buồng điện thoại công cộng, rạp chiếu phim, sảnh của các tòa nhà…

Hiện nay, các loại hình quảng cáo ngoài trời xuất hiện rất đa dạng. Tùy theo tính chất sản phẩm, dịch vụ cần quảng cáo, khách hàng chọn lựa hình thức quảng cáo thích hợp trong bốn loại hình cơ bản : “billboard” là quảng cáo tầm cao, thích hợp cho quảng cáo nguyên vật liệu, hàng hóa công nghiệp, xây dựng, bưu chính viễn thông hoặc các sản phẩm tiêu dùng lâu năm như ti vi, tủ lạnh, xe hơi… Trong khi đó, loại hình “street furniture” quảng cáo ở tầm thấp như nhà chờ xe buýt, kiốt hoặc các loại banner trên đường phố, thích hợp với những sản phẩm tiêu dùng gần gũi hàng ngày như các loại thực phẩm ăn nhanh, hóa mỹ phẩm…

Ngoài ra còn có loại hình quảng cáo di động (transit) trên các phương tiện vận tải và các hình thức quảng cáo dưới dạng trưng bày hình ảnh, truyền tải thông điệp ở những khu vực thương mại dịch vụ đông người, thể hiện qua các poster, brochure, leaflet…được gọi chung là POSM (points of sale materials). Ngoài những hình thức quảng cáo truyền thống như bảng vẽ, hộp đèn, bảng chiếu điện tử…, nhiều công ty quảng cáo đang khai thác những loại hình quảng cáo công nghệ cao như màn hình đèn LED, màn hình LCD, màn hình cảm ứng tương tác (với người tiêu dùng), kỹ thuật chiếu hình 3D vào không gian (holovision)…

Những loại hình mới nổi

Cũng theo TNS, vài năm gần đây, doanh số ngành quảng cáo ngoài trời đạt khoảng 1 tỉ đô la Mỹ, chiếm gần 20% doanh số chung của ngành quảng cáo. Đại diện của Công ty Quảng cáo ngoài trời News Outdoor, ông Nicholas Fraser, Giám đốc tài chính khu vực Đông Nam Á, cho biết công ty này nhìn thấy tiềm năng hấp dẫn của thị trường quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam nên đã mua cổ phần của Quảng cáo Trẻ nhằm cùng đối tác này khai thác thị trường trong tương lai. Ông Thomas Ang, Tổng giám đốc Công ty Quảng cáo và Tổ chức sự kiện Fuse của Singapore, tại một diễn đàn quốc tế về quảng cáo ngoài trời mới đây cũng đã đưa ra nhận định thị trường quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam đang có xu hướng phát triển mạnh. Ông dự báo sắp tới sẽ có nhiều công ty quảng cáo quốc tế đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội và sẽ gây sự chú ý bằng những sản phẩm, dịch vụ quảng cáo chất lượng cao.

Năm rồi, Công ty Vinastar (Mỹ) đã giới thiệu dịch vụ quảng cáo rong, với nhân viên đeo màn hình Pixman 17 inch, tại hội chợ Vietnam Computer World 2006. Cũng trong thời gian này, các thương hiệu thời trang quốc tế như Gucci, Louis Vuitton, Mango, CK… lần lượt vào Việt Nam, dẫn đến sự xuất hiện hàng loạt các áp phích quảng cáo ấn tượng dọc theo các tuyến đường, tòa nhà trung tâm thành phố. Công ty Goldsun Focus Media đã đầu tư hàng chục tỉ đồng để lắp đặt khoảng 1.500 màn hình LCD kích thước lớn tại các siêu thị và cao ốc. Công ty cổ phần Niên giám điện thoại và Trang vàng 2 cung cấp dịch vụ quảng cáo tại nhà chờ xe buýt…

Gần đây nhất, Công ty cổ phần Công nghệ mới Nam Tiến đã giới thiệu ra thị trường loại thiết bị công nghệ “holovision” mới nhập khẩu với công nghệ chiếu hình ba chiều vào không gian, lạ, dự báo có sức hấp dẫn cao nhờ công nghệ hiện đại. Các loại hình quảng cáo này đã xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng hiệu quả tại thị trường Việt Nam như thế nào còn phải chờ thêm thời gian để các công ty nghiên cứu thị trường đưa ra số liệu.

Hình thức nào hiệu quả?

Ông Nguyễn Quý Cáp, Chủ tịch Hội Quảng cáo TPHCM, cho rằng việc học tập, đầu tư các loại hình quảng cáo mới trên thế giới là rất cần thiết nhưng khá tốn kém đối với nhiều doanh nghiệp trong nước vì chưa đo được hiệu quả do chúng còn khá mới mẻ. Trong khi đó, một số loại hình quảng cáo truyền thống dù đã có hiệu quả nhưng vẫn chưa được khai thác đúng mức. Ông đơn cử loại hình quảng cáo “transit”. “Tại Singapore, hầu hết các phương tiện giao thông công cộng đều là những ngôi nhà quảng cáo lưu động. Gần đây, Hà Nội đã cho phép quảng cáo trên xe buýt trở lại và loại hình này đã thu hút khá nhiều khách hàng quảng cáo. Nhưng không hiểu vì sao TPHCM chưa bỏ lệnh cấm”, ông Cáp nói.

Ông Dương Huy, Giám đốc phụ trách mảng quảng cáo ngoài trời của Công ty Quảng cáo Đất Việt, cho biết sản phẩm quảng cáo ngày nay không thể nhếch nhác mà thu được tiền của khách hàng. “Chúng tôi cung cấp dịch vụ là phải bao gồm cả việc chăm sóc hình ảnh quảng cáo của khách hàng. Chúng được yêu cầu phải luôn luôn xuất hiện với sự gợi cảm hoặc ít nhất cũng tạo được những tác động tích cực đến người tiêu dùng. Do đó, trước hết, chúng phải sạch đẹp, bắt mắt”, ông Huy nói. Ở góc độ khách hàng quảng cáo, ông Jong Yeon Jeong, Giám đốc tiếp thị của thương hiệu bánh Orion, giải thích việc lựa chọn hình thức quảng cáo “transit” rằng đây là loại hình quảng cáo rất “kinh tế”! Với giá trung bình 3.000 đô la Mỹ cho mẩu quảng cáo trên một chiếc xe buýt trong một năm, loại hình này rẻ hơn nhiều so với quảng cáo trên tạp chí hoặc truyền hình. “Mặt khác, nó là quảng cáo di động nên sẽ được nhiều người tiêu dùng để mắt đến”, ông Jeong nói.

Nhẩm tính con số hơn 4.000 xe buýt đang hoạt động ở Hà Nội và TPHCM, phục vụ cho hàng triệu lượt hành khách mỗi ngày, mới thấy hiệu quả không nhỏ của hình thức quảng cáo ngoài trời này. Ngoài ra, xe buýt còn có thêm các ưu thế khác, như xuất hiện ở các tuyến giao thông quan trọng của thành phố; thời gian hiện diện ngoài đường của mỗi xe là hơn 15 giờ/ngày; các hình ảnh quảng cáo được thiết kế ở hai bên hông xe, ngang tầm mắt người đi đường, dễ gây chú ý hơn các biển quảng cáo tầm cao.

Theo nhận định của giới chuyên môn, hình thức quảng cáo ngoài trời qua các panô, nhà chờ xe buýt, phương tiện giao thông công cộng… đã chứng minh được hiệu quả nhất định. Phổ biến nhất vẫn là các billboard, là loại hình quảng cáo đặt trên nóc và tường các tòa nhà; các biển quảng cáo được dựng độc lập, có sử dụng các kỹ thuật tiên tiến… Để thực hiện một billboard, doanh nghiệp phải tốn khoảng 30.000-80.000 đô la Mỹ/năm. Loại hình quảng cáo này luôn có mức cầu lớn hơn cung, do nhu cầu ngày càng tăng trong khi các công ty quảng cáo ngoài trời đã được “quy hoạch” những khu vực cố định.

Nhà chờ xe buýt cũng rất phù hợp cho hình thức quảng cáo các sản phẩm mới và quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp. Theo số liệu từ Trung tâm Quản lý và Điều hành vận tải hành khách công cộng, hiện TPHCM có hơn 350 nhà chờ và 1.000 trạm dừng xe buýt, phục vụ trên 1 triệu lượt khách/ngày. Quảng cáo tại nhà chờ xe buýt sẽ thu hút được sự chú ý của khách đi xe buýt và người đi đường. Nghiên cứu của Hiệp hội Quảng cáo thế giới cho thấy, thời gian đi lại ngoài đường của cư dân đô thị trung bình khoảng 1,5 giờ/ngày. Ở Việt Nam, tần suất này có thể cao hơn vì tốc độ giao thông chậm hơn. Giá quảng cáo ở một nhà chờ xe buýt trung bình 7.000-10.000 đô la Mỹ/năm.

Về hình thức quảng cáo bằng màn hình LCD tại các nơi công cộng, dự kiến đến giữa năm sau sẽ có 6.500 màn hình được lắp đặt, đồng thời khu vực quảng cáo sẽ triển khai rộng đến các bệnh viện, trung tâm thẩm mỹ, spa… Ưu điểm của hình thức quảng cáo này là tiếp cận đúng khách hàng mục tiêu. Sản phẩm gia dụng, nhu yếu phẩm hàng ngày sẽ xuất hiện trên màn hình quảng cáo tại các siêu thị, trung tâm thương mại. Sản phẩm cao cấp như điện thoại di động, ô tô… sẽ được quảng cáo tại các khu cao ốc văn phòng. Với thời lượng phát 60 lần/ngày/TVC (đoạn phim quảng cáo), thông điệp quảng cáo được truyền đến khách hàng trực tiếp và liên tục. Theo định kỳ tuần hoặc tháng, doanh nghiệp tham gia quảng cáo còn được gửi báo cáo về lượt người xem quảng cáo, lượng người qua lại tại khu vực… nhằm kịp thời điều chỉnh chiến lược kinh doanh và tiết kiệm chi phí.

Thị trường lớn, nguồn cung chưa theo kịp

Nói về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ quảng cáo hiện nay ở các công ty quảng cáo, ông Dương Huy cho biết: “Sản phẩm, dịch vụ tung ra bao nhiêu là hết bấy nhiêu”.

Đứng ở góc độ nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ quảng cáo, ông Huy cho rằng kinh doanh quảng cáo chính là kinh doanh đất, mà “đất đai” dành cho quảng cáo ngoài trời hiện rất hạn hẹp. Hạn hẹp hiểu ở hai góc độ: thứ nhất, chính sách thắt chặt quảng cáo ngoài trời của cơ quan quản lý làm hạn chế không gian quảng cáo; thứ hai, quy hoạch quảng cáo không ổn định nên thiếu đất cho nhu cầu quảng cáo lâu dài.

Ở loại hình được ưa chuộng nhất là các bảng quảng cáo lớn ngoài trời, do có quá ít vị trí được phép quảng cáo nên nguồn cung chẳng thấm vào đâu so với nhu cầu. Còn với loại hình “street furniture” cũng rất được ưa chuộng tuy có số lượng vị trí quảng cáo nhiều hơn nhưng thực ra, rất ít khách hàng có thể độc quyền chiếm giữ lâu dài một vị trí. Việc nhiều mẩu quảng cáo phải luân phiên xuất hiện thông qua thủ pháp “lật hình” chẳng qua chỉ là sự chấp nhận bất đắc dĩ! Có thể thấy, khi các công ty quảng cáo ở trong tình thế “liệu cơm gắp mắm” thì việc khách hàng bị phụ thuộc vào sản phẩm, dịch vụ mà nhà quảng cáo cung cấp là điều dễ hiểu.

Ở góc độ thứ hai, ông Nguyễn Quý Cáp cho rằng sự không ổn định trong quy hoạch quảng cáo làm hạn chế sức phát triển của các loại hình quảng cáo chất lượng cao, cần sự đầu tư vốn lớn. Theo ông Cáp, thực hiện một billboard đèn LED hiện đại cần cả tỉ đồng chưa kể tiền thuê vị trí. Vì vậy, công ty quảng cáo phải cho thuê dài hạn, ít nhất trên ba năm mới có thể thu hồi vốn. Tuy vậy, thời gian được phép quảng cáo ở một vị trí nào đó luôn là ẩn số. Nhà kinh doanh quảng cáo không có cơ sở để tính toán nên đã có không ít những dự định đầu tư công nghệ cao cho quảng cáo ngoài trời rơi vào bế tắc. Xét ở góc độ này, thị trường quảng cáo Việt Nam còn quá nhỏ để đầu tư những công nghệ mới. Tình hình quảng cáo ngoài trời nhìn chung tuy không thiếu về loại hình nhưng công nghệ tụt hậu và quy hoạch thiếu nề nếp, không dài hạn.

Tuy vậy, tiềm năng phát triển của ngành này lại có thể dễ dàng thấy được. Số liệu của TNS cho biết tổng chi phí quảng cáo những năm gần đây tăng từ 15-20%/năm. Và với sự phát triển của nền kinh tế như hiện nay, các chuyên gia trong ngành dự tính số tiền dành cho quảng cáo của doanh nghiệp sẽ đạt mức 15.000 tỉ đồng vào năm 2010 và 55.000 tỉ đồng năm 2020. Đây là một dự báo đầy tính kích thích cho ngành quảng cáo. Ông Huy cho rằng với tốc độ đô thị hóa hiện nay, chỉ sau năm năm nữa, cơ sở hạ tầng, bộ mặt kiến trúc, cảnh quan đô thị sẽ có nhiều thay đổi, đó là nền tảng cho hoạt động quảng cáo ngoài trời phát triển. Theo ông Cáp, sức phát triển sẽ càng mạnh mẽ hơn nếu chính sách quy hoạch quảng cáo ngoài trời trở nên cởi mở hơn, các cơ quan quản lý nhà nước không còn xem sản phẩm, dịch vụ quảng cáo như những thứ xa xỉ phẩm. “Đặc biệt, một đô thị năng động như TPHCM cần có những chính sách quảng cáo ngoài trời thông thoáng hơn, thay thế cho Quyết định 108 ban hành hồi năm 2002, đến nay đã quá lạc hậu”.
Quảng cáo ngoài trời được nhìn nhận là có tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, do chưa có các quy định cụ thể về kích cỡ, hình thức và chất liệu của các phương tiện quảng cáo ngoài trời, nên sự phát triển này mang nặng tính tự phát, xâm phạm mỹ quan đô thị. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa đầu tư xứng đáng cho nội dung quảng cáo ngoài trời, phổ biến vẫn là biểu tượng (logo), khẩu hiệu (slogan), hình ảnh sản phẩm… Chính sự thiếu chăm chút này đã làm giảm hiệu quả truyền thông, dù mẩu quảng cáo xuất hiện ở những vị trí đẹp trong thành phố.

Theo TBKTSG

Quảng cáo “hốt bạc” thời khủng hoảng

Nền kinh tế suy thoái và mất kiểm soát hiện đang gây ra những ảnh hưởng xấu tới rất nhiều doanh nghiệp, trong đó có hàng nghìn công ty vừa và nhỏ. Tuy nhiên, Arena Media Networks, một công ty quảng cáo mới mở ở New York lại có khả năng trụ vững trong xu hướng này. Đó là bởi vì công ty này kinh doanh với những đội bóng chuyên nghiệp, mà dưới một góc độ nào đó được coi là “miễn nhiễm” với những vấn đề ngày càng tồi tệ đang diễn ra xung quanh họ.

Công ty này, với 25 nhân viên, bán các chương trình quảng cáo trên màn hình lớn trong gần 50 nhà thi đấu chuyên nghiệp và các sân vận động, trong đó có các sân vận động Yankee, Wrigley Field, United Center, Dodger và Madison Square Garden. Trong khi các hãng truyền hình tường thuật trực tiếp những trân đấu đang diễn ra trên sân vận động thì mỗi ngày, những người làm chương trình tại công ty quảng cáo Arena Media ở Manhattan lại cho chiếu hàng chục đoạn quảng cáo kéo dài 30 giây trên những màn hình lớn trong sân vận động của những trận đấu mà khán giả truyền hình đang xem trực tiếp trên tivi tại những căn hộ cao cấp, những khu tổ hợp trung tâm thương mại ngay cạnh những gian hàng giảm giá.

Những nhà quảng cáo có thể mua thời lượng phát hình trong các sân vận động và nhà thi đấu bao nhiêu tùy thích, phát các chương trình quảng cáo bao nhiêu lần họ muốn trước, trong và sau một trận đấu, hay trong cả mùa giải. Trong trân đấu, các đoạn quảng cáo được bật trong suốt khoảng thời gian ngừng đấu, hay lúc nghỉ giữa hiệp, chúng giống như những đoạn quảng cáo được phát sóng trên tivi ở nhà.
Doanh thu tăng 50% trong 3 năm
Dưới sức ép phải sử dụng đồng tiền một cách hiệu quả, những nhà quảng cáo đều có chung một suy nghĩ là phải xác định được những đối tượng nào xem đoạn quảng cáo của họ tại nhà. Theo ông Art Williams, Giám đốc điều hành và Chủ tịch quản trị công ty quảng cáo Arena Media thì hiện nay người tiêu dùng đang tiêu tiền ít hơn, nên những cổ động viên trong các trận đấu tại sân vận động, thường là nam giới ham mê thể thao, lại trở thành nhóm khách hàng hấp dẫn cần được chú ý. “Các cổ động viên hâm mộ thể thao là một trong những ‘thành trì vững chắc’ cuối cùng của nền kinh tế” ông nói. “Các công ty quảng cáo đang đối mặt với thách thức làm thế nào để tạo được sự ảnh hưởng tới những khoản tiền của họ. Thay vì cố gắng thu hút những cổ động viên đang theo dõi trận đấu tại nhà nơi mà họ có điều khiển từ xa và đầu ghi hình kỹ thuật số, thì ở sân vận động không có bất kỳ điều khiển từ xa nào cho những màn hình tivi của chúng tôi.”

Công ty Arena Media trả cho các ông chủ sân vận động và nhà thi đấu một khoản tiền để được phát quảng cáo trong trận đấu và chia cho họ một phần lợi nhuận mà công ty này kiếm được từ những công ty quảng cáo như Ford, Geico và Army. Ông William từ chối tiết lộ tỷ lệ phần trăm của doanh thu quảng cáo mà ông trả cho các chủ sở hữu sân vận động, nói rằng doanh thu của công ty ông tăng 50% trong vòng 3 năm qua. Ông hy vọng sẽ phá vỡ kỷ lục trong năm nay.

Hai năm trở lại đây, Arena Media đã nhân đôi số lượng các địa điểm phát hình các quảng cáo của công ty và ông William hy vọng công ty sẽ có mặt ở 100 sân vân động liên đoàn trong vài năm tới, và sau đó sẽ chuyển sang các trận đấu tại các trường đại học. Những sân vận động mới có nhiều màn hình tivi hơn, điều đó có nghĩa là có nhiều khán giả tiềm năng hơn. Ví dụ như, CitiField, sân vận động mới của đội bóng chày New York Mets, sẽ có hơn 700 màn hình tivi mà mỗi màn hình lớn được ghép lại bởi 3 màn hình nhỏ. Nhiều ông chủ muốn tìm kiếm những công ty phát quảng cáo trên màn hình tivi trong sân vận động của họ nhưng dường như là hiện nay Arena Media không có đối thủ nào. “Cổ động viên xem đoạn quảng cáo nhiều lắm”.Trong vòng 3 năm Arena Media đã gấp đôi lợi nhuận kinh doanh nhờ đăng quảng cáo trên màn hình tivi trong những sân vận động. Trong khi các hình thức quảng cáo truyền thống trên các tờ báo và tạp chí đang phát triển chậm lại, thì các quảng cáo ở những địa điểm thay thế như màn hình tivi đặt ở sau ghế trên xe taxi, ở trạm bơm xăng, và trong các siêu thị mua sắm lại tăng lên liên tục. Các đoạn quảng cáo của Arena Media cũng thường xuyên được xếp vào loại này.

“Nếu quảng cáo ra khỏi nhà, qảng cáo sẽ phát triển” – Jeff Golimowski, phát ngôn viên của Hiệp hội Quảng cáo ngoài trời của Mỹ nói. “Vì chúng tôi phát hiện ra rằng ngày nay người tiêu dùng ra đường nhiều hơn, họ tới các khu tập trung đông người như nhà thi đấu. Và vì đó là nơi người tiêu dùng có mặt nên đó sẽ là nơi mà những nhà quảng cáo muốn đến”.Theo công ty Nghiên cứu Truyền thông Nielsen Media Research thì quảng cáo ngoài trời đã tăng tổng cộng 8,9% năm 2005, 11,2% năm 2006 và 2,3% năm 2007. (Tuy không có số liệu đầy đủ năm 2008 nhưng số liệu 9 tháng đầu năm cho thấy có sự sụt giảm nhẹ.). Mặc dù vậy các nhà phân tích gặp phải khó khăn trong việc dự báo về sự phát triển của công ty Arena Media bởi vì phương thức kinh doanh của công ty tương đối mới và bởi vì các chương trình quảng cáo trên màn hình lớn đang bị cạnh tranh với những loại hình truyền thông khác.

Các nhà quảng cáo cũng phải đối mặt với vấn đề tương tự khi họ mua thời lượng phát hình trên màn hình tivi ở các siêu thị, sân bay và các địa điểm công cộng khác: khách qua đường có thể chỉ liếc mắt xem cái gì đang chiếu trên màn hình nhưng không thực sự chú ý vào nội dung của quảng cáo đó. “Bởi vì tầm nhìn của người xem bị giới hạn và đoạn quảng cáo chiếu quá gần với họ, nên rất khó đảm bảo rằng mọi người đều xem quảng cáo của bạn” ông Jon Swallen, giám đốc nghiên cứu của công ty khảo sát TNS Media Intelligence, nói. “Trong khi với những người giàu có, đi xem một trận đấu vẫn là một thú vui cùng bạn bè sau một ngày làm việc. Chính điều này đòi hỏi các chương trình quảng cáo trên màn hình ở sân vận động phải cạnh tranh để lấy lại được sự ưu ái.” “Cổ động viên xem đoạn quảng cáo nhiều lắm”, ông Greg McElroy, từng là Phó giám đốc kinh doanh và tiếp thị cho sân vận động Dallas Cowboys, 5 năm trước đã từng làm việc cho sân vận động Dodgers ở Los Angeles và đã mua những quảng cáo của công ty Arena Media để chiếu trên sân vận động Dodger, nói. “Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng có thể kiếm tiền bằng cách chiếu những đoạn quảng cáo trong suốt giờ tạm nghỉ của trận đấu, thay vì chỉ bật tivi và mặc kệ công việc cho đài truyền hình”.

Theo New York Times/Vietnambranding

Thế giới ảo – Một lãnh địa mới của hoạt động quảng cáo?

Ngày nay, truyền thông cổ điển không gây chú ý nhiều đối với giới trẻ và cả những người có tâm hồn trẻ trung. Hướng mới mở ra là vấn đề về các thành viên tham gia. Một khi tạo mối quan hệ tốt với những khán giả này thì cách quảng cáo qua video là rất hữu hiệu.Đội bóng chày chuyên nghiệp, Coca Cola, Ngân hàng Well Forgo, khách sạn W, và Hiệp hội chống ung thư Mỹ có điểm gì chung? Họ tận dụng thế giới ảo để tiếp cận với khách hàng tiềm năng và tài trợ bằng những phương pháp mới lạ.


Chẳng hạn như công ty Massive, hiện thuộc Microsoft. Ban đầu Massive mang tên “Lost Boys” (dành cho lứa tuổi từ 18 đến 34) những người ít để ý đến phương tiện truyền thông.

Phân khúc thị trường dành cho quảng cáo chiếm khoảng 12 tỷ đô la trong truyền hình và 10 triệu đô la cho sản phẩm trò chơi video. Thách thức lớn của các nhà quảng cáo là việc giảm lượng khán giả xem truyền hình mà thay thế bằng các nhu cầu giải trí khác như (internet, nghe nhạc, gửi tin nhắn) hoặc đơn giản là bỏ qua các quảng cáo thông qua truyền hình hoặc các công cụ ghi âm khác. Một vấn đề muôn thưở của các nhà quảng cáo là không có khả năng đo lường trực tiếp kết quả hay lợi ích thu được từ nguồn đầu tư (ROI).

Nhận định giá trị của công ty Massive là cần “chèn” những quảng cáo vào các trò chơi video được chọn lọc trên internet, hiển thị trên màn hình trò chơi. Massive làm việc với các nhà sản xuất trò chơi video để tạo mã cho chương trình cho phép quảng cáo trong phạm vi trò chơi. Đồng thời, dữ liệu ấn tượng chạy ngược vào Massive trở thành khối dữ liệu cho các nhà quảng cáo. Các dữ liệu này cho phép các nhà quảng cáo điều chỉnh nội dung cơ bản đang diễn ra nhằm đạt hiệu quả cao hơn.

Thoạt đầu, các nhà quảng cáo có nguồn dữ liệu cho mục quảng cáo của họ mà mục tiêu của nó nhắm đến là tìm kiếm khán giả. Phần lớn các trò chơi trên internet đòi hỏi phải trả tiền và các thông tin cá nhân, các thành viên tăng lên thấy rõ.

Một lĩnh vực tiềm năng cho quảng cáo là những thế giới ảo. Ví dụ như Second life (cuộc sống khác) và Entropia Universe mang đến nhiều cơ hội cho người chơi liên lạc với nhau trong nhiều hình thức mà với các phương tiện truyền thông trước kia không làm được. Với cách cài đặt như thế, mỗi cá nhân có thể tạo một “hiện thân” 3 chiều (một con người với nhiều cá tính tuyệt vời) qua việc đi đứng, bay hoặc gọi điện, có thể thám hiểm vào các thế giới tưởng tượng.

Những không gian ảo này có vô số hình thù và giống các con đường của thành phố ở Amsterdam, lối đi bộ vào viện bảo tàng Louvre ở Paris hay đang đứng trên con tàu Titanic – đứng trong tư thế giống như Rose và Jack ! Đóng vai một người khác trong “Second life” bạn có thể kiếm được một mảnh đất, xây một ngôi nhà và một cửa hàng ngay ngoài sân, tiện cho việc mua sắm quần áo và các thứ cần dùng trong nhà. Trong thế giới này, bạn cũng có thể đổi đô la thật, ranh giới giữa thật và ảo trở nên lu mờ.

Thêm nữa, bạn có thể tạo mối quan hệ với hàng xóm, hoặc một nhóm nào đó cùng sở thích và hoàn cảnh để chia sẻ. Vài tổ chức sáng tạo đã tạo một nơi gặp gỡ như thế để thu hút giới trẻ và tạo thành làn sóng mang thương hiệu của họ vào các hoạt động hay môi trường .

Với các thành viên cảu Coca-Cola, phim trường của Coke là nơi mà giới trẻ tuổi mới lớn có thể kết hợp âm nhạc vào phòng quay ảo, giành điểm “decibel” bằng cách trình phong cách của họ với các thành viên khác.

Với số điểm có được, họ có thể mua các thứ như đồ đạc dùng trong nhà cho phòng ghi âm của mình. Điểm có được nhờ tham gia các trò chơi và các hoạt động khác. Cho dù đang đi trên đường hoặc đang trả lời cuộc thi vấn đáp thì vạch trắng và đỏ (logo của Coke) luôn hiện diện ở phía sau, trên giấy dán tường, khu vực xung quanh như người xây dựng thương hiệu năng động. Sự tiếp cận tế nhị này mang lại sự hiểu biết rộng hơn, cũng giống như các chương trình quảng cáo, cho phép mỗi người tương tác với thương hiệu.

Còn về thương hiệu mang tính giáo dục? Nếu bạn làm việc cho cơ quan tài chánh, bạn cũng sẽ thành công trong việc tạo sân chơi cho thế hệ mới nhằm tuyên truyền thương hiệu của bạn. Chẳng hạn như Fargo đã tạo hòn đảo Stagecoach Island trong Second life như một trò chơi tìm hiểu về tài chánh ảo trực tuyến thực sự đầu tiên.

Sự pha trộn của giải trí và học hỏi mang lại thành công hơn các phương tiện truyền thông cổ điển là điều hiển nhiên.

Các trò chơi miễn phí trên internet cho phép sinh viên tạo ra các nhân vật trong đảo Stagecoach và có thể giao lưu với các thành viên của đảo khác. Mặc dù các hoạt động này miễn phí như môn nhảy dù ra khỏi máy bay và các trò chơi khác yêu cầu phải trả tiền, nhưng cũng có thể kiếm tiền bằng cách tham gia vào mục “khu dành cho việc học hỏi ảo” (Virtual Learning Lounge) để trả lời các câu hỏi cơ bản về ngân hàng. Các chủ đề có liên quan đến ngân sách, tiết kiệm, sử dụng tiền từ chương trình Well’s Fargo được gọi là “thực hiện nghiệp vụ ngân hàng”. Bằng cách tạo một sự vui nhộn, Well’s Fargo dành cho giới trẻ cơ hội tận hưởng dịch vụ này (máy rút tiền Well’s Fargo ATM ) trong khi cộng tác với các dịch vụ ngân hàng.

Điều gì xảy ra nếu bạn mang thương hiệu mới mẻ vào thị trường cạnh tranh? Chính là trường hợp của Aloft (thương hiệu khách sạn AW) xảy ra năm 2006. Theo Alison Brod thuộc bộ phận giao tiếp của Aloft thì Aloft sẽ là thương hiệu khách sạn đầu tiên mở cửa hoạt động với sự chuẩn bị cài đặt ảo. Khách đến khách sạn có thể tham quan phòng ốc, phòng cho khách ngồi nghỉ, môi trường xung quanh rất tốt trước khi khách sạn khai trương vào năm 2008.

Thương hiệu Aloft được xem như “sự giải thoát” từ một quán ăn, cung cấp dịch vụ cao. Khách đến tham quan được cung cấp ý kiến phản hồi về sự thoải mái như phục vụ thức ăn hay trang trí. Mục đích phía sau sự phát triển trong lãnh vực này là hướng dẫn người tiêu dùng hiểu được thương hiệu bằng cách cho người tham quan thưởng thức phòng kiểu gác xếp và một môi trường phù hợp. Thực chất, Aloft đang xây dựng khách hàng tiềm năng dựa trên cơ sở tạo sự thân thuộc và sử dụng dịch vụ của họ.

Hãy tưởng tượng nếu bạn là một tổ chức phi lợi nhuận với nguồn lực giới hạn. Hội chống ung thư Mỹ gần đây tổ chức một cuộc “diễu hành” qua các con đường ảo nhằm kêu gọi ủng hộ, gây quỹ từ thiện. Trong bài báo gần đây trên trang web On Philanthropy.com, hội chống ung thư Mỹ kêu gọi ủng hộ được 38,000 đô la trong cuộc vận động mang tên “Relay for life”. Cuộc diễu hành này thu hút hàng ngàn người tham gia nhiệt tình. “Chúng tôi hồi hộp chờ đợi sự thành công của chương trình “Second life relay for life” của năm nay” ông Michael Mitchell, phó chủ tịch – giám đốc điều hành Trung tâm cải tiến và định hướng của ban phòng chống ung thư Mỹ phát biểu. “Hiện nay, hơn bất kỳ lúc nào, chúng tôi biết rằng đang có một cộng đồng ảo hoạt động tích cực, hiệu quả trong việc phòng chống ung thư”. Cái hay của việc sử dụng môi trường này là mở rộng phạm vi hoạt động, với chi phí thấp. Từ các hoạt động tồn tại trong thế giới ảo, chi phí tài trợ cho sự kiện hay chi phí phát sinh (như áo thun và phí vệ sinh) có thể kiểm soát được. Với ưu điểm trong thành công của Hiệp hội chống ung thư Mỹ, đây là môi trường thuận lợi cho các hoạt động từ thiện khác.



Còn về số phận của 500 tổ chức? Có kênh quảng cáo khác tồn tại trong thế giới ảo này không? Hãy xem xét các khả năng sau.

Công ty bạn sản xuất các thiết bị của điện thoại cầm tay mới ra đời hữu ích hơn cho người tiêu dùng so với các thiết bị hiện hành khác. Các phương tiện truyền thông cổ điển đạt mục tiêu trong thị trường nhỏ hơn khá chật hẹp và đa dạng hóa sản phẩm. Do bản chất kỹ thuật của việc ra mắt sản phẩm, bạn cần khách hàng có thời gian làm quen với các hoạt động vui nhộn này. Cuối cùng, bạn xây dựng được trung tâm kỹ thuật trong thế giới ảo để chứng minh tính năng của một trò chơi.

Ví dụ, để hướng dẫn người sử dụng về đặc điểm trong GPS, bạn phải tạo một khu rừng nhiệt đới Amazon, hướng dẫn họ đánh dấu đường đi tránh vùng đất lún và thú dữ. Khi hoàn tất trò chơi, họ sẽ “học” được cách sử dụng sản phẩm và khuyến khích người khác tham gia.

Vậy giá trị thật sự của quảng cáo trong thế giới ảo này là gi? Trước tiên, khách hàng có thể trải nghiệm nhiều điều không có trong thế giới hiện tại. Thách thức của sản phẩm trong sự cài đặt ảo này là mang lại một môi trường ít rủi ro mà người ta có thể thử trước và biết rõ về các quyền lợi kèm theo. Bạn có thể thuê một nhân vật làm nhà ngoại giao sản phẩm để trả lời các câu hỏi thông thường. Cũng giống như bạn đang chứng minh sản phẩm và dịch vụ 3 chiều của mình. Video giúp người sử dụng có thêm kinh nghiệm. Trong một số tình huống, kiếm sống bằng cách băng Đại dương cũng có thể thấy được qua vài cài đặt ảo

Vậy môi trường ảo có thể là cách quảng cáo hay một cộng đồng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng? Ngày nay các tổ chức giám sát các trang này để biết xem người ta nói gì là điều rất quan trong. Vậy thế giới ảo có phải là phương tiện tiếp theo dành cho quảng cáo?


Bill Nissim (Cao Cẩm My – Công ty thương hiệu LANTABRAND)

Phim quảng cáo VN – Miếng bánh vẫn còn thơm ngon!

“Phim quảng cáo có thể đã bước vào giai đoạn thoái trào, nhưng đó là câu chuyện của thị trường quảng cáo quốc tế chứ không phải Việt Nam”. Độc đáo về ý tưởng, sống động về diễn xuất, hoành tráng về kinh phí thực hiện, các phim quảng cáo đang được công chúng thưởng thức như một sản phẩm nghệ thuật.


Nhưng trong thời đại truyền thông đa phương tiện, quảng cáo truyền hình đang dần bị lu mờ? Phim quảng cáo có còn là lựa chọn khôn ngoan của các doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường?

Phim quảng cáo = phim ngắn nghệ thuật

Phổ biến nhất hiện nay là các phim quảng cáo có độ dài 30 giây. Khoảng thời gian quá ngắn khi so với một bộ phim nhưng thực chất thì phim quảng cáo cũng chính là phim ngắn hay nói đúng hơn thì nó là một hình thức đặc biệt của điện ảnh.

Thời gian gần đây, những người làm phim quảng cáo Việt Nam đã thấm thía hơn bản chất của phim quảng cáo. Vì vậy, clip quảng cáo ấn tượng xuất hiện trên truyền hình ngày càng nhiều hơn. Chẳng hạn, clip quảng cáo sữa Izzi với những hình ảnh ngộ nghĩnh, màu sắc rực rỡ, giai điệu rộn ràng rất hợp tâm lý trẻ thơ đã nhanh chóng gây được ấn tượng mạnh mẽ với công chúng.

Cứ đến giờ phát quảng cáo đó, các cô cậu nhóc dù đang làm việc gì cũng vội vã chạy tới trước màn hình. Các dịch vụ SMS sử dụng bản nhạc đó làm nhạc chuông điện thoại để kinh doanh. Bởi thế, đi đến đâu cũng nghe thấy giai điệu ấy rộn ràng.

Không chỉ khai thác nhạc hay, các đoạn quảng cáo còn tận dụng sức mạnh của điện ảnh để thu hút sự chú ý của khán giả. Chọn đúng thời điểm phim “Die Hard 4” ra mắt, một hãng dầu gội dành cho nam giới tung ra quảng cáo mô phỏng nội dung phim. Chỉ 30 giây mà clip qiảng cáo đó có đủ cảnh đánh đấm mạo hiểm cho đến tình yêu lâm ly, cuốn hút người xem.

Những quảng cáo như trên được xếp vào loại thành công vì thu hút được sự quan tâm của công chúng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc khắc họa được thương hiệu trong đầu họ. Nguyên nhân cội rễ của thành công đó nằm ở sức sáng tạo và khả năng bắt trúng tâm lý người tiêu dùng cũng như sự nhạy bén thời cuộc của ê kíp thực hiện.

Khác biệt, cuốn hút, đề cao sức sáng tạo, các clip quảng cáo xứng đáng được coi là một tác phẩm nghệ thuật.

Đằng sau 30 giây quảng cáo

Nhưng ít ai biết rằng để có được 30 giây quảng cáo ngắn ngủi ấy, ê kíp thực hiện phải đầu tư thời gian, công sức, chi phí và đôi khi số lượng người tham gia làm phim tương đương như khi thực hiện một bộ phim dài.

Để có được 30 giây quảng cáo “anh hùng cứu mỹ nhân” mô phỏng phim “Die Hard 4” nói trên, đơn vị đặt hàng phải bỏ tới 70.000 USD. Cá biệt như hãng bia Tiger cách đây ít năm đã tiêu 1 triệu USD cho phim quảng cáo “The Quest”.

Tại sao chi phí cho phim quảng cáo lại đắt cắt cổ vậy? Xin thưa, để có 30 giây quảng cáo thực sự đẳng cấp, phải qua rất nhiều khâu mà khâu nào cũng hết sức khó khăn.

Khâu đầu tiên là gặp gỡ khách hàng, trao đổi thông tin để tìm ý tưởng. Có thể nói đây chính là khâu khởi đầu của thành công hoặc khởi đầu của thất bại. Không có một ý tưởng tốt thì dù đổ vào bao nhiêu tiền, clip quảng cáo cũng không thể thành công.

Khi có ý tưởng phù hợp, những người thực hiện sẽ xây dựng concept (khái niệm), story board (kịch bản) và tuyển chọn diễn viên; sau đó mới đến phần ghi hình và làm hậu kỳ.

Thường thì ê kíp thực hiện phải mất khoảng 20 ngày cho một phim quảng cáo đơn giản; còn các phim đòi hỏi tính kỹ thuật, mỹ thuật cao thì thời gian thực hiện còn cao hơn và đương nhiên là chi phí cũng cao hơn rất nhiều.

Có những scene (cảnh) chỉ dài 2 giây nhưng phải quay cả trăm đúp, kéo dài trong 1-2 ngày vẫn chưa đạt yêu cầu. Những lúc như vậy, cả ê kíp vừa mệt, vừa bức xúc.

Về lý thuyết, diễn viên đóng quảng cáo không cần phải là người nổi tiếng. Chỉ cần ngoại hình đẹp, diễn xuất tốt là đã có thể trở thành ứng viên sáng giá. Tuy nhiên, do các thương hiệu lớn luôn đưa ra những yêu cầu khắt khe về người đại diện cho hình ảnh sản phẩm của mình nên những ngôi sao nổi tiếng được mời đóng phim quảng cáo nhiều hơn.

Nhưng sự có mặt của các ngôi sao trong quảng cáo cũng đồng nghĩa với việc chi phí thực hiện clip đội lên rất nhiều bởi cát xê cho sao có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Trong khi đó những diễn viên không chuyên được chọn đóng quảng cáo thì thù lao chỉ ở mức vài triệu đồng, thậm chí là vài trăm ngàn đồng cho một vai diễn phụ.

Đối với các đạo diễn và quay phim, tuy việc làm clip quảng cáo không đem lại cho họ nhiều danh tiếng nhưng chẳng mấy người lại không ham làm phim quảng cáo. Bởi một hợp đồng làm phim quảng cáo cho các hãng sản xuất lớn thường đem lại cho họ doanh thu bằng đi làm phim truyện cả năm.

Đặc biệt, do đặc trưng clip quảng cáo là những phim cực ngắn, việc truyền tải hết ý tưởng trong khoảng thời gian chỉ tính bằng giây là hết sức khó khăn nên những clip này đòi hỏi được thực hiện bởi những đạo diễn, quay phim có tay nghề lão luyện nhất. Chính vì thế, hầu hết những đạo diễn, quay phim lành nghề nhất đều đầu quân cho đội ngũ này.

Tuy nhiên, phải khẳng định rằng việc làm clip quảng cáo ở nước ta còn lâu mới đạt tới trình độ chuyên nghiệp bởi việc làm hậu kỳ vẫn phải trông cậy rất nhiều vào công nghệ ở nước ngoài.

Chẳng hạn trong các quảng cáo sản phẩm dầu gội đầu, mái tóc đen óng mượt như nhung đều được tô, chuốt tỉ mỉ từng sợi trên máy tính. Hay màu sắc rực rỡ, xanh ngắt của bầu trời, tối sẫm của màn đêm đều phải nhờ đến kỹ xảo.

Tuy hiện nay tại Việt Nam, đội ngũ kỹ thuật hậu kỳ đã được trang bị những thiết bị tương đối hiện đại nhưng tay nghề còn non nên chỉ làm được những quảng cáo đơn giản. Tất cả những clip đòi hỏi chất lượng cao đều phải đưa ra nước ngoài (đa phần là đưa sang Thái Lan) để làm hậu kỳ thì mới đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Tất nhiên, đưa clip đi làm hậu kỳ ở nước ngoài cũng có nghĩa là chi phí đắt đỏ hơn rất nhiều.

Tất nhiên không có ngân sách cố định nào dành cho một phim quảng cáo. 100.000 USD cũng đủ để làm một bộ phim quảng cáo, mà 5 – 10 triệu USD cũng có thể chỉ đủ đề làm một clip 30 giây. Bởi số tiền bỏ ra phải tương ứng với quy mô và yêu cầu mà khách hàng đặt ra cho ê kíp thực hiện.

Tương lai còn rạng rỡ…

Tất cả các chủ thương hiệu đều muốn phim quảng cáo của mình phải thật ấn tượng để khi vừa phát sóng là lập tức “hớp hồn” người xem, không lẫn với bất cứ phim quảng cáo nào khác. Bởi sự khác biệt của quảng cáo chính là chìa khoá đánh thức sự chú ý của người xem – đối tượng mà doanh nghiệp hướng tới.

Nhưng nhiều nhà nghiên cứu hiện nay lại cho rằng quảng cáo đã mất đi sức mạnh thực sự của nó. Theo thông tin chưa chính thức, ước tính ở Việt Nam có hơn 3.000 phim quảng cáo/năm, tức mỗi ngày người xem truyền hình được “thưởng thức” gần 10 phim quảng cáo.

Một thống kê khác cho thấy, mỗi đợt quảng cáo chen giữa chương trình truyền hình có thể xuất hiện đến gần 20 mẩu quảng cáo. Trong khi đó, mỗi đoạn quảng cáo chỉ kéo dài 30 giây. Do đó, rất khó để định vị được thương hiệu trong tâm tưởng công chúng.

Nhà chiến lược nổi tiếng về tiếp thị của Mỹ, Giáo sư Al Ries đã viết trong cuốn “Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi” (The Fall of advertising anh the Rise of PR): “Cách mà người ta nhìn quảng cáo bây giờ chẳng khác gì cách họ đọc một cuốn tiểu thuyết hay xem một chương trình biểu diễn trên truyền hình. Họ quan tâm đến các nhân vật, các tình huống, các âm mưu mà không mảy may có động cơ sẽ có hành động gì để đóng góp vào đó, kể cả mua sản phẩm. Đó chỉ là nghệ thuật”

Al Ries cũng cho rằng, với việc phim quảng cáo ngày càng tiến gần đến nghệ thuật, mục tiêu thúc đẩy doanh số bán hàng của doanh nghiệp nhờ quảng cáo sẽ không như mong muốn. Do đó thời của quảng cáo đã hết.

Thế nhưng, đó chưa phải là thực tế của ngành quảng cáo Việt Nam. Từng ngày từng giờ, các quảng cáo vẫn liên tiếp xuất hiện trên sóng truyền hình. Với mức giá vài chục triệu đồng cho một lần phát sóng 30 giây quảng cáo, các thương hiệu lớn vẫn sẵn sàng chấp nhận. Bởi khi đoạn quảng cáo thực sự hấp dẫn, khán giả sẽ nhớ đến thương hiệu một cách tự nhiên.

Giải thích về thực tế này, một chuyên gia kinh tế cho biết: “Phim quảng cáo có thể đã bước vào giai đoạn thoái trào, nhưng đó là câu chuyện của thị trường quảng cáo quốc tế chứ không phải Việt Nam. Nguyên do là ở những thị trường lớn như Mỹ, Anh, Đức…, các phương tiện quảng bá phát triển với tốc độ chóng mặt, các loại hình quảng cáo mới liên tục được khai phá với công nghệ ngày càng hiện đại hơn, chi phí cũng thấp hơn. Chính vì vậy, clip quảng cáo phải nhường bớt một phần “lãnh địa” là chuyện tất yếu.

Trong khi đó, ngành quảng cáo ở Việt Nam mới bước qua giai đoạn khởi đầu. Ở giai đoạn này, phim quảng cáo vẫn là phương thức quảng bá thống trị. Thời điểm quảng cáo truyền hình thoái vị ở Việt Nam vẫn còn xa lắm.”

Anh Thái Hoàng – phụ trách khách hàng ở một công ty truyền thông ở Hà Nội cũng tiết lộ: “Tâm lý của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn tin tưởng truyền hình lắm. Cứ được lên truyền hình là họ thích rồi nên họ rất sẵn sàng chi tiền. Hơn nữa, một thông điệp bằng video bao giờ cũng dễ hiểu hơn một trang văn bản. Ở giai đoạn này, quảng cáo truyền hình ở Việt Nam vẫn là “miếng bánh” còn thơm ngon lắm”.

Với những lý do đó, quảng cáo truyền hình không thể thoái trào. Nó đã và sẽ vẫn là một phương tiện quan trọng, cầu nối công chúng với sản phẩm.

Theo Vietnamnet

(Theo lantabrand.com)

Girls Generation - Korean