Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Những chuyện thú vị về hậu trường quảng cáo

Một doanh nghiệp hay tập đoàn nếu muốn tạo dựng thương hiệu không thể bỏ qua vai trò quan trọng của quảng cáo.
Vì vậy quảng cáo được nhiều doanh nghiệp đầu tư rất công phu và trích một phần không nhỏ lợi nhuận để đầu tư. Dù tò mò nhưng rất ít người biết rõ những câu chuyện đầy thú vị hay tình huống dở khóc dở cười phía sau mỗi clip quảng cáo ấn tượng.

Có lẽ độc giả truyền hình vẫn còn nhớ tới clip quảng cáo bia Sài Gòn rất ấn tượng cách đây vài năm với slogan độc đáo "Dù bạn không cao nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn". Để có được slogan gói gọn trong vài chữ này, cả phía doanh nghiệp và copywriter (chuyên viên ý tưởng quảng cáo) đã phải tốn khá nhiều thời gian để "động não".

Theo ông Lê Hồng Sanh, Giám đốc marketting, Công ty thương mại dịch vụ Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (thuộc Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn - Sabeco), tất cả những quảng cáo cho sản phẩm, doanh nghiệp đều phải thuê một đơn vị quảng cáo chuyên nghiệp thực hiện. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đau đầu trong việc cộng tác với đơn vị quảng cáo để tìm ra ý tưởng, nội dung phù hợp cho đoạn phim. Một lần nữa, ông Sanh phải tập trung cao độ nghiên cứu khá kỹ sản phẩm của mình, từ hình dáng cho đến hương vị, để tìm ra nét độc đáo đặc trưng của bia Sài Gòn. Vì ý tưởng quảng cáo sẽ phải làm nổi bật đặc điểm đó.
"Một đặc điểm của chai bia Sài Gòn là có dáng lùn. Đây có vẻ như là nhược điểm của loại bia này vì người ta thường cho rằng chai thấp thì lượng bia ít hơn. Tuy nhiên, chai bia Sài Gòn lùn nhưng đậm nên lượng bia vẫn nhiều. Hơn nữa, điều quan trọng nằm ở chất lượng, hương vị của bia.
Những quảng cáo hài hước không phản cảm luôn được người xem thích thú
Vì thế, chúng tôi đã yêu cầu đơn vị quảng cáo chú trọng vào những đặc điểm này để viết ý tưởng và slogan. Từ đó, slogan "Dù bạn không cao nhưng người khác cũng phải ngước nhìn" ra đời. Diễn viên đóng trong đoạn phim quảng cáo cũng phải là một người nổi tiếng nhưng có chiều cao khiếm tốn và được khán giả rất hâm mộ, yêu thích", ông Sanh chia sẻ.
Cũng theo ông Sanh, không gì tốn kém bằng đầu tư cho quảng cáo, kể cả khi sản phẩm đã nổi tiếng và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường thì doanh nghiệp càng phải quảng cáo mạnh hơn. Cứ khoảng 2 - 3 năm, đoạn phim quảng cáo của một sản phẩm của Habeco lại phải thay một lần. Mỗi lần doanh nghiệp tung ra một sản phẩm mới lại phải có clip quảng cáo riêng.
Mà các sản phẩm của Habeco rất đa dạng như bia Sài Gòn Special, Sài Gòn xanh, Sài Gòn đỏ, bia lon 333... Mỗi một sản phẩm phải có slogan riêng chứ không thể dùng chung một slogan, như bia đỏ có slogan là "Không bóng bẩy, không ồn ào, không cầu kỳ, không cần phô trương - uống thì hiểu".

Ông Sanh tiết lộ, hàng năm Sabeco dành khoảng vài phần trăm doanh thu đầu tư vào quảng cáo. Trong đó, mỗi một đoạn clip quảng cáo có giá lên tới 50.000 - 70.000 USD. Còn giá phải trả cho mỗi một câu slogan dao động từ 1.000 - 2.000 USD tới cả trăm triệu đồng.

Trong việc doanh nghiệp tìm hướng quảng cáo cho sản phẩm, bên cạnh những câu chuyện thú vị thì có không ít tình huống "cười ra nước mắt".

Vì kinh phí cho sản xuất phim quảng cáo khá đắt đỏ nên nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không dám với tới thể loại quảng cáo này mà họ phải xoay theo các hướng khác. Và quảng cáo ngoài trời (OOH) là một trong những cách họ lựa chọn vì tính lâu dài của nó.

Ông Nguyễn Văn Tấn, Giám đốc Công ty thương mại và chế biến thực phẩm Thông Tấn, nổi tiếng với các sản phẩm đóng hộp mang thương hiệu Asia Food, tính toán, nếu làm phim quảng cáo và phát trên truyền hình thì để chạy lâu dài, kinh phí quá lớn. Thế nên ông quyết định thuê đơn vị xây dựng cột treo biển quảng cáo ngoài trời ven đường quốc lộ từ Phủ Lý vào Hà Nội.
Thời điểm đó khoảng đầu năm 2009, do đơn vị quảng cáo trên phải tập trung, huy động nhân sự làm một số sự kiện lớn nên họ đã dời dự án của công ty ông Tấn lại tới cuối tháng 7. Đến khi họ thông báo bắt đầu làm thì mức giá họ báo cũng bị đội lên hơn 100 triệu đồng so với giá cũ, với lý do giả cả nguyên vật liệu xây dựng tăng mạnh.

"Lúc đó tôi khá bức xúc vì họ đã triển khai hợp đồng với công ty chúng tôi chậm mà không báo trước để tôi tìm đơn vị khác thay thế. Sau đó tôi đã "du di" cho họ cả nửa năm nhưng họ không "biết điều", lại còn đột ngột tăng giá mạnh, nên tôi hủy luôn hợp đồng", ông Tấn thuật lại sự cố không mong muốn.

Với đạo diễn sáng tạo ý tưởng quảng cáo thì những câu chuyện hậu trường xung quanh vấn đề này còn lắm điều hay ho hơn để kể.

Theo một chuyên viên ý tưởng quảng cáo của Công ty CP phát triển công nghệ và truyền thông Việt, trong một lần nhận hợp đồng PR và quảng cáo cho Ảnh viện áo cưới Thanh Vân tại Hà Nội, anh đã rất đau đầu trong việc tìm ý tưởng kịch bản.
Anh đã đến các showroom của Thanh Vân để xem tất cả các mẫu váy cưới, comple, ảnh mẫu và thấy mẫu mã khá phong phú. Lúc đó anh nghĩ: "Làm thế nào để đưa được càng nhiều mẫu váy lên hình càng tốt, nhưng người xem không bị ngộp".

Tình cờ khi đó, anh xem một đoạn clip về một đám cưới tập thể tại nước ngoài rất sôi động, mỗi cô dâu là một kiểu váy và trang điểm riêng. Anh liền nghĩ ra một trò chơi có tên "Khởi động trước ngày cưới".

Theo đó, công ty anh và phía Thanh Vân sẽ mời 50 cặp chuẩn bị cưới tham gia vào trò chơi này, để kết hợp tổ chức sự kiện và quay clip quảng cáo. Các đôi tham gia được mặc trang phục cưới và trang điểm miễn phí tại Thanh Vân và sẽ chơi các trò chơi rất vui nhộn. Đôi nào thắng sẽ được giải thưởng là một bộ váy cưới và một buổi ghi hình album cưới.

"Việc mời các đôi chuẩn bị cưới tham gia chương trình còn là một cách để thu hút khách cho ảnh viện, vì thực tế sau đó, có khá nhiều đôi đăng ký chụp ảnh cưới và thuê váy tại đây", anh này nói.

Song, một điều khiến anh chuyên viên ý tưởng này đau đầu nữa là biết tìm đâu ra được 50 cặp chuẩn bị cưới để mời họ tham gia đây. Mà chắc gì tìm được rồi, họ đã đồng ý.

Lại một ý tưởng nữa nảy ra rất tình cờ khi vào một buổi tối, anh xem bộ phim "Gà trống nuôi con" của Hàn Quốc, có đoạn ông bố trẻ bế đứa con đang gào khóc vì đói đi đến từng nhà xin sữa mẹ cho nó. Nhưng gõ cửa nhiều nhà đều không ai có sữa vì con lớn hoặc chưa có con, ông bố này nghĩ ra một cách là đi tới bệnh viện phụ sản để hỏi xin địa chỉ của các bà mẹ mới sinh em bé. "Ngay lúc đó, tôi thốt lên: a, phòng đăng ký kết hôn, tại sao không?", anh chuyên viên hào hứng kể.

Thế là sáng hôm sau, anh cho người qua các phòng đăng ký kết hôn của Hà Nội để xin địa chỉ, số điện thoại của các cặp đôi mới đăng ký. Sau đó là giai đoạn gian nan khác khi thuyết phục từng đôi tham gia.

Anh kể, có đôi thì đồng ý ngay, nhưng có cặp cô dâu đồng ý, chú rể lại không. Có đôi anh phải mời năm lần bảy lượt, hẹn hò café hoặc đến tận nhà, mang theo đầy đủ tài liệu chứng mình những gì mình nói là thật. Thậm chí có đôi chú rể còn hiểu lầm, ghen tuông với cô dâu khi nhân viên của anh hẹn họ, nhắn tin với cô dâu để bàn việc nhưng cô gái lại chưa kịp kể với chú rể...

Còn anh Nguyễn Vũ Phước, Giám đốc Công ty Quảng cáo Kiến Vàng, một trong những đơn vị hoạt động về tổ chức sự kiện, mỹ thuật ứng dụng đầu tiên và có tiếng tại Việt Nam, cho biết, để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, đạo diễn ý tưởng quảng cáo phải xây dựng rất nhiều ý tưởng. Sau đó, khách hàng sẽ chọn ý tưởng nào mà họ ưng ý nhất.

Anh Phước nhớ lại kỷ niệm một lần viết kịch bản quảng cáo cho sản phẩm bình tắm nóng lạnh của một thương hiệu. Gần đến hạn đưa kịch bản cho khách hàng nhưng anh vẫn chưa hài lòng với các ý tưởng đã vạch ra. Anh lại lang thang đi qua các ngóc ngách của đường phố để cảm nhận cuộc sống từ muôn mặt và tìm ý tưởng mới.

Tình cờ đi vào chợ, anh thấy một cụ bà tóc trắng, bàn tay gân guốc lam lũ đang cố sức xếp những nải chuối luộc lên chiếc bàn nhỏ. "Hình ảnh cảm động này đã gây ấn tượng mạnh với tôi, và tôi biết rằng đây mới là giá trị mà kịch bản của tôi đang tìm kiếm".

Về nhà, anh đã bắt tay ngay vào việc viết kịch bản: Một bà cụ lom khom bưng nồi nước sôi để pha nước tắm giữa mùa đông lạnh giá và hình ảnh người con trai đang nghĩ về một chiếc bình tắm nước nóng với những lời ăn năn: "Mẹ thường đói để con được no. Mẹ thường rét để con được ấm. Nhưng con đã làm được gì cho mẹ khi con thành đạt?...". Ý tưởng này sau đó đã được khách hàng đánh giá cao vì những giá trị nhân văn của nó.
Theo anh Phước, người tiêu dùng ngày nay rất thiếu thời gian để giải trí, do dó họ thường tìm mọi cách để bỏ qua những thông điệp quảng cáo trên báo đài, truyền hình lúc nào cũng như bủa vây lấy mình. Vì vậy, để thu hút người xem, phim quảng cáo yêu cầu phải ấn tượng, độc đáo, đôi khi cần hài hước và cảm động, đặc biệt trách mọi yếu tố phản cảm đi ngược với văn hóa người Việt.
Thế nên để thành công trong nghề không phải là dễ, đòi hỏi người làm nghề phải am hiểu rộng nhiều lĩnh vực, óc sáng tạo cao, ngoại ngữ tốt, khả năng phân tích, đúc kết. Đôi khi họ bị dị ứng với sản phẩm nhưng vẫn phải mua về dùng thường xuyên cả tháng để "nghiên cứu" tìm ý tưởng PR cho sản phẩm.

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

2 trong 1: Video ca nhạc kiêm quảng bá sản phẩm

Khi thưởng thức video "Telephone" của Lady Gaga, khán giả sẽ hoa mắt như đang lạc vào xứ sở hàng hiệu: kính Channel, máy ảnh Polaroid, Coca-Cola, điện thoại Virgin, bánh mì Wonder...

Tuy rằng cô ca sĩ nổi tiếng với thời trang quái dị này đã hơi quá đà khi cố tình để các nhãn hiệu xuất hiện lộ liễu như vậy trong tác phẩm nghệ thuật của mình, song Lady Gaga không phải là người duy nhất đang "cổ súy" cho làn sóng đưa hình ảnh các nhãn hiệu vào video ca nhạc.

Góp phần không nhỏ vào sự thịnh hành của hiện tượng này là hai xu hướng liên quan tới nhau: sự "di cư" ồ ạt của video từ truyền hình sang Internet và nỗ lực của các hãng ghi âm nhằm biến các video thành một nguồn thu nhập mới chứ không chỉ đơn thuần là công cụ marketing để bán đĩa CD như trước đây.

Theo báo cáo của PQ Media, một công ty nghiên cứu thị trường Mỹ đưa ra hồi tuần trước, số tiền chi tiêu vào hoạt động quảng bá sản phẩm trên video ca nhạc tăng 8% trong năm 2009 so với năm trước đó, trong khi tổng số tiền dành cho hoạt động quảng bá sản phẩm nói chung giảm đi 2,8%, tức 3,6 tỷ USD.
Hàng loạt thương hiệu nổi tiếng xuất hiện trong single "Telephone" của Lady Gaga
Số tiền này thường được sử dụng để bù vào các chi phí dựng video, vốn là trách nhiệm chung của cả giới nghệ sĩ và các công ty muốn quảng bá nhãn hiệu.

Patrick Quinn, Giám đốc điều hành của PQ Media, cho biết doanh thu từ hoạt động quảng bá sản phẩm trong các video ca nhạc đạt mức 15 - 20 triệu USD trong năm ngoái, tức nhiều gấp đôi so với năm 2000. Ông hy vọng con số này sẽ còn tiếp tục tăng trong năm nay.

Trong nhiều năm, các cơ hội quảng bá sản phẩm (giới quảng cáo vẫn thích gọi hoạt động này là "lồng ghép") trong các video ca nhạc rất hạn chế. MTV từng là nơi phát hành video chủ yếu, mà chính sách của họ là cấm các hình ảnh quảng cáo lộ liễu trong các video; vì thế nhà sản xuất thường phải làm mờ tên nhãn hiệu hoặc đặt làm sản phẩm mô hình không ghi nhãn hiệu sản phẩm.

Nhưng giờ đây thời gian phát sóng các video ca nhạc của MTV đã giảm đi đáng kể, và Internet đang dần "thế chân" trở thành điểm đến ưa thích cho các fan âm nhạc, từ đó mở ra cánh cửa cơ hội cho các công ty cũng như nhà quảng cáo.

Rio Caraeff, giám đốc điều hành của Vevo, mạng video âm nhạc mới thành lập cuối năm ngoái và là đối tác của YouTube, cho biết công ty ông sẽ hỗ trợ các hoạt động quảng bá sản phẩm trong video. Ông nói: "Công ty chúng tôi đóng vai trò cầu nối giữa các công ty âm nhạc lớn nhất trên thế giới với các nhà tiếp thị nhãn hiệu".

Video "Telephone" của Lady Gaga (đã có 62 triệu lượt xem trên YouTube) đã "cài cắm" cả hình ảnh các sản phẩm của hai hãng Miracle Whip và Virgin Mobile.

Ông Caraef nói điều này cho thấy "mối quan hệ hai bên cùng có lợi giữa chúng tôi với các nhãn hiệu và các công ty âm nhạc ra sao, và chúng tôi có thể đưa họ xích lại gần nhau như thế nào để tạo thành những đối tác thành công trong tương lai."

Jonathan Feldman, Phó Giám đốc đối tác nhãn hiệu của Atlantic Records, cho biết công ty ông có nhiều thay đổi trong cách đánh giá giá trị của các video so với 5 hay 10 năm trước. Ông nói: "Trước kia, video chỉ là nơi thể hiện tính sáng tạo và nội dung; nó là sản phẩm khuyến mãi. Còn giờ đây chúng tôi coi video cũng là một nguồn lợi nhuận và là một cách tạo doanh thu."

Theo Feldman, điểm thuyết phục giới quảng cáo là khác với các hình thức quảng cáo khác, chẳng hạn chiếu đoạn quảng cáo dài 15 giây trước khi bắt đầu vào phần ca nhạc, sản phẩm khi đã xuất hiện trong video rồi thì nó luôn tồn tại ở đó. Nó sẽ không bao giờ biến mất cả".

Nhưng rất khó dự đoán được số lượng người xem video; và đó cũng là lý do chính mà Kathy Findling, Chủ tịch Creative Entertainment Services, một công ty marketing chuyên về quảng bá sản phẩm, nêu lên khi giải thích tại sao công ty của cô lại thực hiện ít hợp đồng quảng cáo qua video. Theo bà, việc ước đoán số lượng người xem trong một chương trình truyền hình sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Thường hợp đồng quảng cáo qua video được thực hiện do một nhãn hiệu nào đó vốn đã có mối quan hệ quen biết với một nghệ sĩ (chẳng hạn tài trợ một chuyến lưu diễn cho nghệ sĩ). Tuy vậy, mỗi hợp đồng vẫn ẩn chứa trong nó nhiều rủi ro.
Theo Feldman, điều quan trọng đối với cả công ty thương mại và người nghệ sĩ là phải làm sao để khán giả không đánh giá video ca nhạc là phim quảng cáo cho bất kỳ sản phẩm nào cả.
Ông còn cho hay giới nghệ sĩ mới là người có tiếng nói quyết định trong việc có nên đưa hình ảnh nhãn hiệu nào vào video hay không. Riêng công ty của ông đã nhiều lần từ chối các cơ hội đó vì có vẻ nó làm cho video mất vẻ tự nhiên.
Owen Shively, người chịu trách nhiệm thực hiện các hợp đồng âm nhạc cho UPP Entertainment Marketing, một công ty quảng bá sản phẩm tại California, cho hay việc "hợp lý hóa" sự xuất hiện của nhãn hiệu vào video là vì lợi ích của chính nhãn hiệu đó. Ông nói: "Không còn các quy định hạn chế nữa, nhưng chẳng ai muốn quảng cáo một cách lộ liễu cả. Chúng tôi không muốn khán giả khi xem xong video lại phải thốt lên: 'Chi tiết này vô lý quá thể!'"

Marketing không áp dụng quảng cáo (P.3)

Truyền thống quảng cáo trung thực của Nhật Bản đã có từ rất lâu. Trong thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, các du khách Trung Quốc ấn tượng với đức tính trung thực của các thương nhân Nhật Bản đến nỗi họ đã mô tả đức tính này là nét văn hóa đặc trưng của người Nhật.

Ngày nay, sự trung thực có lịch sử 2.000 năm tuổi này được phản ánh qua nhiều chi tiết: các nhà hàng bày mẫu thức ăn trong tủ kính trước cửa và báo giá bằng số tròn bao gồm thuế và tiền boa bán hàng. Nếu bạn nhìn thấy một món ăn đề giá 800 yên thì đó là tổng giá bạn phải trả. Biên tập Stephanie Harolde của nhà xuất bản Nolo, người đã sống và làm việc ở Nhật Bản, cho biết thêm là các doanh nghiệp Nhật Bản không bao giờ hạ bệ đối thủ cạnh tranh hoặc buông những lời so sánh ám chỉ sản phẩm của mình tốt hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

Nhưng cũng có một số người lại ngăn cản cuộc chiến giữa chủ nghĩa hoài nghi và sự lừa bịp trên. Ví dụ, trong số ra ngày 23 tháng 7 năm 2002, tờ Time giật tít như thế này "Thế giới chỉ quảng cáo, quảng cáo và quảng cáo", và Keithe Rein, Chủ tịch của Công ty dịch vụ marketing DDB WorldWide phản bác "Tôi phản đối bất kì hình thức lừa đảo nào. Nói cho cùng, đó là kiểu kinh doanh bất chính."

Loại hình quảng cáo không trung thực đặc biệt gây khó chịu vì nó khá xảo quyệt và làm liên lụy đến những tạp chí hay tờ báo mà bạn hằng ngưỡng mộ cho đến khi phát hiện ra "mặt trái" của chúng.Việc này diễn ra như sau:những ấn phẩm này chào hàng sản phẩm và dịch vụ của người quảng cáo trong các bài phóng sự của mình.Chẳng hạn, người ta biết rằng một số tạp chí máy tính đã bình phẩm thiên vị cho sản phẩm của những đơn vị6 quảng cáo nhiều, và những tờ báo nhỏ thường tung hô sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp - những đơn vị sẽ mua không gian quảng cáo.Một khi đã khám phá sự thật phũ phàng này, bạn sẽ thấy rằng, mọi thứ được ca tụng trên những ấn phẩm đó, ngay cả những doanh nghiệp thực sự tuyệt vời, cũng bị nghi ngờ.

Quảng cáo xảo quyệt đang tràn lan trong nền văn hóa của chúng ta; từ việc "tài trợ tăng cường" cho các buổi biểu diễn truyền hình để truyền tải những thông điệp giống hệt những chương trình quảng cáo thương mại trên truyền hình cho đến việc đặt hàng quảng cáo (đưa hàng hóa có tên nhãn hiệu vào phim, trò chơi và truyền hình).

Marketing ngầm hoặc Marketing biến tướng xuất hiện khi khách hàng tiềm năng không nhận ra mình đang bị lọt vào phạm vi marketing. Lấy ví dụ, khi những người nổi tiếng xuất hiện trên một talk show truyền hình và ca tụng một loại "thần dược" nào đó mà không đề cập gì đến công ty dược phẩm đang trả tiền cho họ. Chưa hài lòng với kiểu lăng xê sản phẩm trên, nhiều công ty còn trả tiền để các tác giả đưa nhãn hiệu của họ vào sách.

Và còn tồi tệ hơn khi ranh giới giữa quảng cáo và cuộc sống ngày dần mờ nhạt. Những người lăng xê mốt được trả tiền để tham dự các bữa tiệc đình đám. Những người có ảnh hưởng được thuê đến những quán bar đông khách và trò chuyện về những thương hiệu nhất định (một cách có chủ ý). Hoặc nhà quảng cáo bỏ tiền để mời các bà mẹ lên tiếng ca ngợi một game bóng đá, thu hút giới trẻ đi phân phát những mẫu áo, tranh ảnh, và CD mẫu quảng cáo cho sản phẩm nào đó.

Tại các trường trung học thuộc Tampa, Florida, gần đây các lớp học đã biến thành mô hình Nhà hàng Outback (Outback Restaurant) thu nhỏ với sàn gỗ, trần nhà màu tím đặc trưng và cách bài trí theo phong cách Úc. Xu hướng này cũng xuất hiện ở những chi nhánh ngân hàng do sinh viên quản lí trong chính những trường trung học được chọn.

Thực sự thì chúng ta đã tiến rất xa kể từ thời ngành công nghiệp sữa cung cấp sữa miễn phí cho trẻ em vào giờ ra chơi. Những trường học khắp cả nước giờ đây bán "không gian quảng cáo" riêng trên xe bus đưa rước, hàng lang, máy bán hàng tự động đặt trong trường và đồng phục thể dục cho người trả giá cao nhất.Hành động cung cấp thiết bị truyền hình cho các trường tham gia để đổi lấy việc đưa quảng cáo vào phòng học của Kênh I (Channel One) là phần nổi của tảng băng trôi.Các công ty đã bắt đầu tự viết những kế hoạch hiệu quả.

Cách đây 3 năm, một nghiên cứu được thực hiện cho Trường Kinh doanh Harvard đã làm sáng tỏ cảm nhận của người Mỹ về quảng cáo truyền thống:"43% dân số Mỹ cho rằng phần lớn quảng cáo xúc phạm đến trí thông minh của người tiêu dùng trung bình.53% người dân Mỹ phản đối ý kiến hầu hết quảng cáo đều phản ánh chân thực về sản phẩm được quảng cáo".

Nguyên nhân chính của thái độ thù địch đối với quảng cáo là quảng cáo có giọng điệu cưỡng ép và kẻ cả (73%), có thể bị phản đối về mặt đạo đức (50%), sai trái và dẫn đến lầm lạc (36%).Nghiên cứu do Gallup tiến hành năm 2004 đã chứng minh cho luận điểm "đánh giá của công chúng về tính trung thực trong quảng cáo không được cải thiện":Nghề nghiệp nào được công chúng tin tưởng hoặc khinh bỉ nhất? Trong số các ngành nghề được đưa ra, chuyên gia quảng cáo xếp ở vị trí áp chót - chỉ xếp trên nhân viên bán xe ô tô đã qua sử dụng".

Chúng ta hãy dành đôi phút để nhìn vào các khẩu hiệu quảng cáo của một số công ty nổi đình nổi đám ở Mỹ.Mặc dù doanh nghiệp quảng cáo coi các khẩu hiệu dưới đây là quảng cáo "tốt" và không thổi phồng sự việc một cách thiếu trung thực, bạn hãy tự hỏi đây có phải là khẩu hiệu quảng cáo tốt mà doanh nghiệp bạn nên duy trì không?

  • State Farm. Like a Good Neighbor, State Farm Is There (Người hàng xóm tốt, State Farm ở đây.)
  • BMW. The Ultimate Driving Machine (Chiếc xe thời thượng)
  • Chevy. Built like a Rock (Cứng như đá)
  • Visa. It's everywhere you want to be (Là tất cả mọi nơi bạn muốn đến)
  • Amercian Express. Don't Leave Home Without It (Đừng quên tôi khi dọn nhà)
  • Mentos. The Freshmaker (Đánh thức cảm quan)
  • Taco Bell. Think Outside the Bun (Phá vỡ lối mòn)
  • Got Milk? (Sữa nhé?)
  • Just do it (Nike) - (Hãy làm đi)

Tất cả chúng ta đều đã nghe những khẩu hiệu này hoặc có những người đã say mê chúng trong nhiều năm. Chúng quen thuộc với chúng đến nỗi chúng ta phải tập trung chỉ để lắng nghe và thực sự cất công tìm hiểu liệu chúng có sai sự thật hay được phóng đại lên không?.Và ngày càng có nhiều khẩu hiệu tấn công chúng ta tới tấp mỗi ngày.Chắc chắn, bạn có thể nghĩ tới nhiều khẩu hiệu khác mà không gặp phải bất cứ phiền toái nào.

Có vẻ như người ta đã chán ngấy sự quảng cáo thổi phồng đến nỗi đôi khi "phản quảng cáo" lại đem lại thành công.Nhật báo USA Today đã dẫn lời Bernie Hannaford, người điều hành một quán ăn rẻ tiền có tên "Thức ăn Tồi nhất ở Oregon": "Tôi là một đầu bếp tồi, và cha tôi luôn luôn bảo tôi nói sự thật dù có chuyện gì xảy ra".Những biển hàng bên ngoài đập vào mắt thực khách dòng chữ "Hãy vào và ngồi cùng những con ruồi!" và cảnh báo: "Thức ăn đã kinh khủng - dịch vụ còn tồi hơn".

Đọc phần in chữ nhỏ

Hãy vào trang mouseprint.org để tham khảo một số cảnh báo trước những quảng cáo có phông chữ nhỏ lừa đảo trơ trẽn nhất. Tên của trang web này gợi nhắc đến một thuật ngữ marketing phổ biến hay được sử dụng cho những phần quảng cáo in chữ cực nhỏ mà chỉ có chuột mới thấy được chúng. Mẩu quảng cáo hiện chúng tôi rất hứng thú là của một người môi giới "giao dịch trực tuyến với giá chỉ 9,95 USD." Nhưng khi đọc phần quảng cáo in chữ nhỏ, bạn mới phát hiện ra mức giá ày chỉ áp dụng cho "những khách hàng có số dư tài khoản tối thiểu là 1 triệu USD."

"PHẢN QUẢNG CÁO" TỪ TẠP CHÍ ADBUSTERS

Quảng cáo trung thực

May thay vẫn còn đôi chút hi vọng gieo cho bạn niềm tin vào khả năng có một tiêu chí trung thực tốt hơn trong quảng cáo. Ít nhất cũng có hai quốc gia là Nhật Bản và Thụy Điển khuyến khích tính trung thực trong quảng cáo.Ở các nước khác, quảng cáo có "phần chữ in nhỏ" mâu thuẫn với thông điệp chính, hoặc cho phép hình thức quảng cáo lừa bịp, phóng đại mà chúng ta đã quá quen thuộc và thường trắng trợn hơn cả nói dối.

Truyền thống quảng cáo trung thực của Nhật Bản đã có từ rất lâu.Trong thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, các du khách Trung Quốc ấn tượng với đức tính trung thực của các thương nhân Nhật Bản đến nỗi họ đã mô tả đức tính này là nét văn hóa đặc trưng của người Nhật.Ngày nay, sự trung thực có lịch sử 2.000 năm tuổi này được phản ánh qua nhiều chi tiết:các nhà hàng bày mẫu thức ăn trong tủ kính trước cửa và báo giá bằng số tròn bao gồm thuế và tiền boa bán hàng.Nếu bạn nhìn thấy một món ăn đề giá 800 yên thì đó là tổng giá bạn phải trả.Biên tập Stephanie Harolde của nhà xuất bản Nolo, người đã sống và làm việc ở Nhật Bản, cho biết thêm là các doanh nghiệp Nhật Bản không bao giờ hạ bệ đối thủ cạnh tranh hoặc buông những lời so sánh ám chỉ sản phẩm của mình tốt hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

Thụy Điển, quốc gia có nền văn hóa tương đồng với chúng ta hơn, đã thông qua một nghị quyết chính trị khuyến khích quảng cáo trung thực. Ở đây, việc lừa bịp trong quảng cáo đã bị coi là vi phạm pháp luật từ những năm đầu thập kỷ 70.Để thực hiện điều này, chính phủ Thụy Điển không chỉ nới rộng bộ luật hình sự nhằm bài trừ quảng cáo lừa bịp mà còn thành lập một cơ quan hành pháp để thực thi bộ luật. Kết quả là giờ đây, người dân Thụy Điển dốc sức bảo vệ tính chính trực của quảng cáo. Có lẽ đến một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ tự hào về ngành quảng cáo của mình như thế.

Về mặt kỹ thuật, quảng cáo lừa bịp là phạm pháp ở Hoa Kỳ, nhưng việc thi hành pháp luật vẫn còn hạn chế.Các tiêu chuẩn pháp định cho quảng cáo được thảo luận trong cuốn sách Hướng dẫn Pháp luật để Khởi đầu và Điều hành một Doanh nghiệp Nhỏ của tác giả Fred Steingold (Nhà xuất bản Nolo).

Chúng tôi bàn về cách người Nhật và người Thụy Điển sử dụng quảng cáo để thuyết phục bạn rằng nếu bạn có ý định quảng cáo, bạn nên chắc chắn rằng quảng cáo của bạn phải hoàn toàn chân thực và rằng chúng càng khác biệt về phong cách, nội dung và nơi xuất hiện so với những quảng cáo bình thường khác càng tốt. Chẳng hạn, nếu bạn muốn nêu hạn chế của lời chào hàng trên một quảng cáo in bằng cách nào đi chăng nữa, hãy in những hạn chế đó to như phần chào hàng.Nếu bạn quảng cáo cho một dịch vụ, đừng phóng đại kết quả có lợi khi sử dụng dịch vụ đó đồng thời đưa vào lời cảnh báo về bất cứ rủi ro nào.

Xây dựng thương hiệu

"Branding - xây dựng thương hiệu" là cụm từ phổ biến trong quảng cáo suốt thập kỉ qua, và các bộ phận marketing ở các công ty lớn luôn có người đảm nhận phụ trách thương hiệu. Xây dựng thương hiệu là sự thức thời khi quảng cáo truyền thống đã lỗi thời với ý tưởng là phải làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ có tiếng tăm đến mức khách hàng nhận diện ra chúng ngay trong vô số những tên tuổi lẫy lừng khác. Có thể hiểu việc xây dựng thương hiệu là hành động biến một kẻ vô danh tiểu tốt, như hãng điện tử Electronic Product X, trở nên đình đám, sánh vai với các "ông lớn" như Sony Electronic, chỉ cần Electronic Product X chi đủ tiền vào quảng cáo để "xây dựng" thương hiệu của mình.

Khúc mắc của mô hình này là việc định vị thương hiệu thực sự phải được tạo ra khi một công ty sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng và duy trì chúng bằng chính sách bảo hành thỏa đáng, thu hồi sản phẩm kém chất lượng và các biện pháp khác làm vừa lòng khách hàng. Điều hành doanh nghiệp theo cách này- không phải là phó mặc may rủi vào quảng cáo mà là tạo ra sự tin tưởng và tín nhiệm của khách hàng. Vài thập kỉ trở lại đây, một vài đại gia đã "ngã ngựa" khi không thể giải quyết được vấn đề với sản phẩm của mình. Perrier, sản phẩm cho trẻ em Gerber, Trung tâm ô tô Sears, Firestone đã phạm phải sai lầm trong khâu thu hồi sản phẩm và mất đến 10 năm để khôi phục lại danh tiếng của mình. Cuối cùng, Gerber phải bán lại cho đơn vị khác, và uy tín kinh doanh của Sears bị hủy hoại nghiêm trọng. Nhưng, Tylenol đã giải quyết vấn đề thu hồi hàng hóa kém chất lượng rất tốt và thậm chí còn làm cho thương hiệu của mình nổi tiếng hơn.

Để xây dựng chiến lược thương hiệu hiệu quả, một công ty phải đảm bảo được chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình - và phải chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với những tình huống bất thường. Nếu không quan tâm đến những vấn đề này, danh tiếng của công ty sẽ chỉ dậm chân tại chỗ và chờ tới lúc bị hủy hoại. Chẳng loại quảng cáo nào có thể khuếch trương thanh thế cho công ty nếu không có dẫn chứng trung thực kèm theo.

Trong một bài viết về nghệ thuật xây dựng thương hiệu trên tờ The New Yorker, tác giả James Surowiecki đã viết "Thành công của những người làm merketing, kì khôi thay, lại chính là việc bán cho chúng ta ý tưởng 'marketing chính là tất cả những gì bạn cần.' Họ đưa ra lời khuyên thân tình, độc đáo. Cách đúng đắn nhất để đẩy mạnh doanh số là bán ra những sản phẩm tốt hơn."

Niêm yết: Kiểu quảng cáo phát huy tác dụng

Bạn có thể nói"Này, đợi một phút". "Quảng cáo có thể không đáng để bạn bỏ tiền như nó được phóng đại, nhưng nhiều kiểu quảng cáo lại thực sự có hiệu quả với doanh nghiệp nhỏ".

Những kiểu "quảng cáo" thường phát huy tác dụng đối với doanh nghiệp nhỏ bao gồm niên giám trang vàng, danh bạ doanh nghiệp, tờ rơi dán trên hiệu giặt là tự động, những trang web uy tín và quảng cáo kiểu "thông báo" xuất hiện ở tất cả các loại địa điểm thích hợp, từ những tờ báo "ba xu" miễn phí, hay khi đến nhà hàng lúc đêm khuya, cho đến buổi hòa nhạc tại địa phương.

Chúng ta phân biệt rõ ràng giữa những kiểu quảng cáo hướng trực tiếp đến lợi ích này với quảng cáo in truyền thống và quảng cáo điện tử.Trên thực tế, chúng ta thích gọi những kiểu thông báo này là "niêm yết" hơn dù phải trả tiền hay không.Một quy tắc hợp lí để phân biệt hai loại hình trên là niêm yết xuất hiện ở nơi mọi người đang tìm nó.Mặt khác, quảng cáo như kiểu một bảng Billboard án ngữ ở một nơi phong cảnh đẹp hoặc một đoạn quảng cáo chất khử mùi xen giữa và choán hết giờ của một chương trình truyền hình thường được coi là vô tổ chức và gây khó chịu.

Một khía cạnh khác của quảng cáo mà niêm yết không có - đó là các công ty quảng cáo nhận được khoản tiền "lại quả" khi bán một quảng cáo:phần lớn số tiền họ kiếm được là từ phần chiết khấu mà phương tiện truyền thông dành riêng cho họ.Chẳng hạn, một công ty quảng cáo có thể bán cho bạn một quảng cáo với giá 100.000 USD, sau đó mua thời lượng truyền thông với giá 85.000 USD.Nếu bạn niêm yết doanh nghiệp của mình trong niêm giám những Trang vàng, ngay cả khi sử dụng khổ quảng cáo lớn, bạn và công ty quảng cáo đều phải trả một số tiền như nhau.Nói cách khác, niêm yết gần như không bao giờ có chính sách chiết khấu cho công ty quảng cáo.

Để minh họa thêm cho sự khác biệt giữa quảng cáo và niêm yết, hãy xem xét sự phổ biến của TiVo và các máy quay kĩ thuật số khác. TiVo cho phép người sử dụng lướt qua các mẩu quảng cáo - đây là tính năng mà đa số người sử dụng rất ưa chuộng. Quảng cáo gần như xâm chiếm thời gian của tất cả mọi người, và phần lớn chúng ta chả thích thú gì kiểu xâm chiếm này bất kể nó có thú vị, hài hước hoặc hấp dẫn đến đâu. Còn "niêm yết" lại luôn ở nơi mà khách hàng tiềm năng sẽ tới với mục đích tìm kiếm thông tin. Niêm yết trên Google là một hình thức khôn ngoan, bởi vì khách hàng sẽ tiềm kiếm thông qua một từ hoặc cụm từ cụ thể để định hình thông tin cần tìm.

Alex Gault, một người bạn của chúng tôi đã viết một bài báo về hiệu quả của chương trình Google's AdWords với mục đích marketing nó:

"Trong suốt thế kỉ 20, các chiến dịch quảng cáo gần như phụ thuộc hoàn toàn vào những thực tiễn sau: phân tích nhân khẩu học của các chuyên gia marketing, lựa chọn phương tiện truyền thông thích hợp do các nhà hoạch định truyền thông tư vấn, địa điểm quảng cáo tùy theo người mua quảng cáo và cuối cùng là ban điều hành doanh nghiệp phân tích các kết quả. Tất cả các bước trên đòi hỏi phải mất nhiều tháng thực hiện để có được một chiến dịch quảng cáo và đánh giá hiệu quả của nó."

"Với chương trình Google Adwords, quy trình tương tự có thể chỉ mất vài ngày. Một người làm marketing yêu thích sản phẩm của Nike có thể chọn ra 3000 từ khóa - 'xoay vòng' (pronation), "chạy bền" (distance running), "Micheal Jordan",.... và viết 5 thông điệp cho mỗi một từ khóa. Như vậy, có thể có đến 15.000 thông điệp cho một sản phẩm. Thông điệp cho mỗi từ khóa lần lượt xuất hiện, và những thông điệp cho ra kết quả kém chính xác nhất được loại trừ. Phản hồi có thể xuất hiện ngay lập tức. Tim ArmStrong, phó giám đốc phụ trách quảng cáo của Google cho biết "Chỉ sau một đêm, bạn sẽ biết quảng cáo nào hiệu quả nhất và tách chúng ra. Và việc thử từng ý tưởng một cũng không mất mát gì, bởi vì bạn chỉ phải trả tiền cho những quảng cáo hoạt động hiệu quả." Trừ phi sản phẩm bị cạn kiệt, còn không thì các nhà quảng cáo chẳng đời nào khuyến khích việc ngừng một chiến dịch quảng cáo."

Để nhập từ, bạn có thể vào trang web của Google AdWorlds, http //adwords.google.com/select.

Chúng tôi nhiệt liệt ủng hộ việc sử dụng niêm yết.Thực ra, đối với phần lớn doanh nghiệp, niêm yết hết sức cần thiết— đặc biệt là quảng cáo trên những trang vàng đối với những doanh nghiệp mà khách hàng chủ yếu sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của họ trong trường hợp khẩn cấp - chẳng hạn như một dịch vụ làm sạch khô, thợ ống nước hay thợ khóa.Niêm yết trên niên giám những Trang vàng, và trong trường hợp thích hợp là những Trang bạc dành cho các doanh nghiệp cao cấp và những Trang vàng dành cho từng tộc người là biện pháp vô giá.

MỘT TRANG TỪ COMMONDGROUND, DANH BẠ DOANH NGHIỆP CHUYÊN VỀ THÔNG TIN CÁ NHÂN

Trong một số trường hợp, các khái niệm niêm yết và quảng cáo gần như lẫn vào nhau.Chẳng hạn, ở nhiều vùng của Mỹ, theo truyền thống, thứ Tư là ngày các cửa hàng tạp hóa giảm giá bán các mặt hàng.Vì vậy, nhiều khách hàng tiết kiệm thường kiểm tra những danh sách in kín cả một trang (quảng cáo) để mua được những món hàng rẻ nhất.Theo quan điểm của chúng tôi, kiểu quảng cáo này đủ điều kiện được coi là một niêm yết miễn là nó được đặt ở nơi khách hàng thường kiểm tra.

Tương tự, trong kinh doanh phần mềm máy tính, nhiều công ty bán số lượng lớn phần mềm máy tính giảm giá và thường quảng cáo món hàng của mình trên những tạp chí máy tính.Quảng cáo của họ thường chứa những danh sách dài các phần mềm sẵn có được in chữ nhỏ.Những khách hàng tinh tế sẽ kiểm tra các danh sách này trước tiên bất cứ khi nào họ cần phần mềm vì giá cả được đưa ra thường thấp hơn giá ở những cửa hàng bán lẻ.

Phòng thương mại, các cơ quan giới thiệu việc làm, bản tin nghề nghiệp, tạp chí và tập san, những cuốn sách chuyên ngành chẳng hạn như sách dành cho nhà văn hoặc thợ nhiếp ảnh, là nơi thường liệt kê hàng hóa hay dịch vụ.Ngoài ra, trong một số trường hợp, nhiều tờ báo đã phát triển các mục chuyên sâu đến nỗi việc liệt kê các dịch vụ ở đó cũng là điều có thể hiểu được.Chẳng hạn, một đại lý du lịch chuyên về các chuyến bay thuê riêng tới châu Á có thể đưa danh sách giá cả vào mục du lịch Chủ Nhật.Tương tự, những tờ báo cộng đồng nhỏ tồn tại được chủ yếu nhờ vào quảng cáo địa phương thường bao gồm nhiều danh sách hàng hóa và dịch vụ.Nhiều thương gia thấy rằng loại hình niêm yết này thực sự mang lại kết quả tốt.Các trường học và nhóm rạp hát địa phương cũng phụ thuộc vào việc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp.Chúng ta coi những loại hình quảng cáo đó là niêm yết loại hiệu quả nhất.

Về đặc trung này, từ lâu chúng ta đã quen với niên giám Common Ground, một công ty cổ phần hết sức thành công; doanh nghiệp này xuất bản báo chí chuyên đưa các thông tin cá nhân của doanh nghiệp. Những người quan tâm đặt mua dài hạn hoặc mua lẻ tại các quán cà phê, spa chăm sóc sức khỏe hoặc bất cứ nơi nào các doanh nghiệp niêm yết trong Common Ground cho là nơi thích hợp để bày bán báo.Vì những người niêm yết trong danh bạ trực tiếp đảm nhận khâu phân phối nên xác suất tờ báo được đặt chính xác ở những nơi mà người quan tâm đến các dịch vụ được niêm yết có thể tìm thấy nó là cao ngất ngưởng.

Những doanh nghiệp phi lợi nhuận và vì lợi nhuận đều phải đối mặt với cùng một vấn đề:họ cần làm cho càng nhiều người biết về dịch vụ hay sản phẩm của mình càng tốt.Dịch vụ Giới thiệu và Cung cấp Thông tin ở thành phố Palo Alto, bang California đã nghĩ ra một cách thông minh để phổ biến nhiều thông tin trong một gói tiện lợi.Doanh nghiệp xuất bản một danh bạ dễ sử dụng niêm yết khoảng 200 cơ quan và tổ chức địa phương kèm theo số điện thoại của dịch vụ để cung cấp thêm thông tin.

Nhận diện sự hưng phấn giả tạo

Bruce Weinstein, một nhà luân lí học nổi tiếng với danh xưng "Con người đạo đức" cực lực công kích xu hướng tạo ra những hưng phấn giả tạo. Ví du, Hiệp hội marketing truyền miệng khuyến khích sử dụng những chiến lược lan tỏa để thúc đẩy bán sản phẩm và dịch vụ, kiểu như thuê "những thực khách làm bộ hài lòng" hòa lẫn vào dòng người chờ trước nhà hàng và lớn tiếng tán tụng. Weinstein bực bội " Những gì nhóm người này đang cố gắng phấn đấu là đạt được hiệu quả trong thời gian ngắn. Nhưng cách duy nhất hiệu quả phải là thực sự đảm bảo chất lượng trong dài hạn, không chỉ dựa vào những khách hàng trung thành mà còn mở rộng đến những khách hàng tín nhiệm và tin tưởng bạn thực sự đặt lợi ích của họ lên trên hết."

Cũng cần phải nhận ra rằng niêm yết có thể có nhiều hình thức khác ngoài trả tiền cho không gian quảng cáo trong các ấn phẩm. Chẳng hạn, ở nhiều vùng, nếu chó hoặc mèo của bạn bị lạc thì bạn có thể dán yết thị thông báo trên cột điện thoại, hàng rào hoặc thùng thư.Loại yết thị này phố biến đến nỗi nếu ai đó trong vùng tìm thấy một con vật cưng, rất có thể cô ấy sẽ kiểm tra cột điện thoại hoặc cọc rào mà bạn đã dán yết thị.Ở vùng nông thôn, tất cả các loại thông tin đều được yết thị theo cách này.Gần đây, khi đi dạo dọc đường làng, Salli đã để ý thấy một chiếc biển bìa các tông được đóng đinh vào một cái cột:"Cảnh báo!Đừng mua!Carl Chase [không phải tên thật của anh ta] cung cấp gỗ ẩm và sẽ không trả lại tiền đặt cọc - Người từng bị lừa".Việc này chẳng có gì mới mẻ cả. Từ xa xưa, dân thành Roma thường sơn thông tin về những trận đấu sắp tới giữa các đấu sĩ trên tường các tòa nhà, và người Hy Lạp dán những yết thị quan trọng trên các cột xoay ở những nơi tập trung đông dân cư.

Đối với những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ gia đình như quét ống khói, trông trẻ và giữ nhà, bảng thông báo ở hiệu giặt tự động là nơi mà nhiều người tìm kiếm sự giúp đỡ. Trường cao đẳng và đại học là gợi ý hay cho các trung tâm ngoại ngữ, gia sư, người dạy khiêu vũ, nhân viên đánh máy và các dịch vụ giới thiệu bạn cùng phòng. Ở những vùng nông thôn, niêm yết trong Bản đồ Đường đi tới các Trang trại (một biển chỉ dẫn cho các du khách quan tâm đến việc mua nông sản) là một trong những công cụ marketing quan trọng nhất đối với người bán hoa quả, hạt giống, rau, gia súc và cây Nô-en. Và những nghệ sĩ trong vùng sẽ in một bản đồ cùng với một mô tả ngắn về công việc của họ và đứng ra tổ chức những chuyến đi nghỉ cuối tuần kiểu "Studio mở".Những khách sạn cạnh đường cho khách có ô tô (motels) và quán trọ có giường, phục vụ bữa sáng là địa điểm lý tưởng để các doanh nghiệp nhỏ quảng cáo mình là một phần trong số các dịch vụ được chính các cơ sở kinh doanh nói trên khuyên dùng.

Thứ Tư, 14 tháng 7, 2010

Thương hiệu quốc gia: Câu chuyện Việt Nam

Xây dựng thương hiệu quốc gia là vấn đề đang được chú ý trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, xây dựng thương hiệu quốc gia như thế nào để Việt Nam vươn lên, xứng tầm với các nước trong khu vực và thế giới thì rất cần sự góp sức của tất cả các thành phần trong xã hội. Và quan trọng hơn là phải có một nhạc trưởng tài hoa!

Phở, áo dài, hay niềm kiêu hãnh?

Tại bàn tròn thảo luận "Xây dựng thương hiệu quốc gia" do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giáo dục Trí Việt và Công ty Sài Gòn Truyền thông tổ chức tại TP.HCM, nhiều chuyên gia cho rằng, xây dựng thương hiệu cho một quốc gia là quá trình tạo dựng và quản lý hình ảnh của quốc gia đó. Nhưng chọn hình ảnh, chất liệu nào để xây dựng thương hiệu quốc gia là điều không thể xem nhẹ.

Theo ông Lý Quý Trung, Tổng giám đốc Tập đoàn An Nam, Việt Nam đang có đủ các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" để trở thành "Bếp ăn của thế giới". "Ngành ẩm thực của Việt Nam đặc sắc, hợp mốt, hợp gu của thế giới, lại nằm ở châu Á - một khu vực đang trỗi dậy, nên có nhiều điều kiện để thế giới biết đến. Vì thế, nên chọn lĩnh vực ẩm thực để xây dựng thương hiệu quốc gia", ông Trung phân tích.

Ông Trung cho rằng, Việt Nam trở thành "cường quốc ẩm thực là chuyện trong tầm tay" và đề nghị lập một ban nghiên cứu về ẩm thực Việt Nam, chọn món ăn, chọn một mô hình chuẩn và đặc trưng cho nhà hàng Việt để xuất khẩu.

Cũng đánh giá cao lĩnh vực này, GS. Trần Văn Khê khuyên nên chọn văn hóa ẩm thực, trang phục, âm nhạc làm chất liệu để xây dựng thương hiệu quốc gia. GS. Khê cho biết, trong bộ từ điển của Anh và một số quốc gia đã có các từ "nem", "phở", "áo dài" không dịch ra tiếng bản địa và giải thích đó là món ăn và quốc phục của Việt Nam. "Đó là điều đáng để Việt Nam hãnh diện", GS. Khê đánh giá.

Còn ông Phan Chánh Dưỡng, Giảng viên chương trình Fulbright, thì khẳng định, thương hiệu quốc gia cần được hình thành từ sự tự hào của người dân về quê hương. Thương hiệu quốc gia của những nước phát triển trên thế giới hiện nay cũng được xây dựng từ niềm tự hào về chất lượng của những sản phẩm tiêu dùng bình thường, gần gũi như giày, đồng hồ, áo quần... Sản phẩm của họ được thế giới công nhận và hình ảnh thương hiệu sản phẩm đã gắn với thương hiệu quốc gia.

Các chuyên gia nước ngoài góp ý, chọn chất liệu gì cũng tốt nhưng cần phải phản ánh đúng thực tế. Vì hiện nay, người nước ngoài còn biết rất ít về Việt Nam.

Bà Morvarid Kaykha, chuyên gia cao cấp của Design Bridge (Singapore), chia sẻ, khi gõ từ khóa Việt Nam trên Google, các trang đầu tiên đều nói đến đề tài chiến tranh. Nếu có những thông tin cập nhật thì cũng gắn với những hình ảnh bất lợi như thiên tai, lũ lụt, lao động rẻ, giá trị thấp...

Đó là điểm bất lợi lớn khi thuyết phục các nhà đầu tư đến với Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam cần chọn những gì đại diện cho thực tế diễn ra hằng ngày để làm thương hiệu quốc gia thì mới có giá trị. Đồng quan điểm này, ông David Keen, Giám đốc Công ty Keen Media, đơn vị từng tư vấn thành công chiến lược xây dựng thương hiệu cho đất nước Bhutan, cho hay, người bên ngoài rất khó hiểu về Việt Nam.

Theo ông David, đó có thể là do cách làm lâu nay chưa đúng. "Việt Nam có thể lấy khẩu hiệu "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" để khơi gợi niềm kiêu hãnh của dân tộc trong quá trình xây dựng thương hiệu quốc gia", bà Morvarid Kaykha gợi ý.

"Đừng lèo tèo vài ba nhạc công!"

Xu hướng xây dựng các hình ảnh quốc gia trên thế giới ngày càng đi theo hướng chuyên nghiệp, đòi hỏi phải có đầu tư cụ thể, bài bản và dài hơi. Nhà nước phải có định hướng chiến lược rõ ràng, xây dựng khung pháp lý, chính sách ưu đãi, cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp...

Bà Tôn Nữ Thị Ninh nhận định, tới giờ vẫn có những ngộ nhận sai lầm về thương hiệu quốc gia ở nhiều người, nhiều giới khác nhau. "Hiện nay nhiều người vẫn nghĩ, không có cái gọi là "thương hiệu quốc gia". Họ tưởng rằng thương hiệu quốc gia là thương hiệu của doanh nghiệp ở tầm quốc gia, chứ không hiểu thương hiệu của doanh nghiệp chỉ là một bộ phận của thương hiệu quốc gia và không thể là tổng thể của một đất nước", bà Ninh khẳng định.

Còn theo bà Nguyễn Thế Thanh, Tổng giám đốc Công ty Truyền thông Sài Gòn, lâu nay chúng ta nhìn thương hiệu quốc gia ở góc độ thương mại nên chỉ giao cho cơ quan quản lý ngành thương mại xây dựng và quản lý. Do vậy, hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài dường như chỉ gắn với các hoạt động xuất khẩu thủy sản, gạo, cà phê, sản phẩm dệt may, giày dép...

Và trong mắt người nước ngoài, Việt Nam chỉ là một đất nước an toàn (theo nghĩa không có xung đột vũ trang, đánh bom...); món ăn ngon, lạ, hợp với xu hướng ẩm thực thế giới; cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và yên bình; người dân thân thiện...

Tuy nhiên, tất cả chưa có đặc điểm gì thật sự tạo được dấu ấn... "Không nên đóng khung thương hiệu quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, mà phải mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như lịch sử, cảnh quan thiên nhiên và những nội dung của văn hóa vật thể và phi vật thể.

Vì vậy, cũng không nên giao việc xây dựng và quản lý thương hiệu quốc gia cho một cơ quan quản lý nhà nước về thương mại, mà phải hình thành một tổ chức có đủ thẩm quyền xác lập các tiêu chí và giải pháp quản lý nó một cách hiệu quả", bà Thanh chia sẻ.

Với kinh nghiệm của một nhà ngoại giao, bà Tôn Nữ Thị Ninh đóng góp ý kiến: để xây dựng thương hiệu quốc gia cần phải gắn kết bốn mối quan hệ, đó là kinh tế - doanh nghiệp, nhân tố văn hóa - lịch sử - con người, vai trò truyền thông - nhận thức của công chúng và vai trò của Nhà nước.

Trong đó, Nhà nước và chính quyền đóng vai trò nhạc trưởng. "Mong rằng Nhà nước đừng điều khiển dàn nhạc lèo tèo vài ba nhạc công và chỉ là công chức. Phải biết tận dụng những tài năng, trí tuệ sẵn có trong nước cũng như trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài và cả cộng đồng những người nước ngoài đã là và có thể là người hâm mộ của Việt Nam", bà Ninh mong muốn.

Thứ Hai, 12 tháng 7, 2010

Làm giàu từ... những câu trả lời qua mạng

Cách đây 7 năm, không ai nghĩ rằng, chàng trai 30 tuổi, người Mỹ lại có thể thành công bằng việc kinh doanh các câu trả lời qua mạng qua trang web www.JustAnswer.com

Andy Kurtzig đã thành lập công ty JustAnswer có trụ sở tại San Francisco, Mỹ. Công ty đã giúp hàng triệu người tìm được thông tin cần thiết, những người tìm những câu trả lời cho những vấn đề bức xúc và quan tâm của mình từ năm 2003. Đây là dự án thành công thứ ba của anh.

Kinh doanh cái mà khách hàng cần

Sinh ra trong một gia đình làm nghề kinh doanh, ngay từ nhỏ Andy Kurtzig đã quan tâm tới chuyện kinh doanh. Dự án thành công đầu tiên của anh, Answer Corp, được thực hiện khi Andy là một sinh viên. Anh đã phát triển và đảm bảo tự động hoá lịch ghi chép vào các báo.

Ý tưởng thành công từ thời sinh viên đã thu hút các khách hàng lớn như Post Newspaper Group và The San Francisco Bay Guardian.

Sau khi bán Answer năm 1996, Andy cùng với mẹ sáng lập eBenefits, một dịch vụ - nguồn nhân lực. Phát triển công ty ngay từ khởi đầu, Andy đã tăng vốn của công ty lên tới 8 triệu đô la, làm việc với New Enterprise Associates (NEA), Draper Fisher Jurvetson (DFJ) và WR Hambrecht. L

Là một lãnh đạo có uy tín, có sức thu hút, Andy đóng vai trò chủ chốt trong việc phát triển quan hệ đối tác độc quyền với Fortune 500 công ty, như Marsh & McLennan và Automatic Data Processing. Năm 2003 Andy Kurtzig đã bán eBenefits.

Và bắt đầu JustAnswer.com nổi tiếng. Andy Kurtzig đã gây dựng một công ty độc đáo, làm việc với một nguyên tắc thật đơn giản: Khách hàng cần nhận cái mà vì nó họ trả tiền.

Năm 2003 Andy nảy sinh một ý tưởng đầy sáng tạo chính từ câu hỏi của vợ. "Lúc đó vợ tôi mang bầu đứa con đầu tiên của chúng tôi, Andy hồi tưởng lại,- vì đó là lần đầu tiên, vì thế vợ tôi đã "hành hạ" bác sĩ hàng trăm câu hỏi qua điện thoại hàng ngày.

Cuối cùng thì bác sĩ không trả lời nữa và nói vợ tôi phải tới phòng khám chính thức. Vợ tôi nói sẵn sàng trả tiền cho mỗi câu hỏi, nhưng bác sĩ lại không làm việc kiểu như thế".

Trong những lúc rảnh rỗi, Andy thích nghiên cứu về các phương pháp chữa bệnh tiểu đường. Anh tích cực tham gia tổ chức Juvenile Diabetes Research Foundation, cùng với vợ thành lập quỹ từ thiện The Royal Ball. Ngoài ra, Andy dành thời gian cho đọc sách, các trò chơi và dành thời gian cho vợ và các con

Andy đã nghĩ: "Tại sao không? Tại sao mọi người không thể có những chuyên gia sẵn sàng trả lời từng câu hỏi lấy tiền? Đó là khởi điểm của JustAnswer ra đời.

Hiện nay công ty là một mạng online kết nối mọi người muốn nhận được những câu trả lời từ bác sĩ, luật sư, nhân viên kỹ thuật và các chuyên gia khác vào bất cứ giờ nào trong ngày, ban ngày cũng như ban đêm.

Những chủ đề thường được quan tâm nhất liên quan tới pháp luật, y tế, xe hơi và động vật nuôi trong nhà. Dĩ nhiên, các bác sĩ trả lời các vấn đề sức khỏe và y học, còn các luật sư trả lời các câu hỏi liên quan tới tư pháp.

Người lập trình kiêm quét dọn

Lúc đầu JustAnswer chỉ là một công ty một người. "Tôi vừa là người lập chương trình, là thư ký, va người gác cổng và quét dọn", - Andy nói. Anh cũng là người đứng đầu tiếp thị. Làm tiếp thị anh bắt đầu sử dụng Google AdWords đề đạt lưu lượng truy cập tới trang web của mình.

Andy cũng là lãnh đạo về tiếp thị và thu hút khách hàng tới trang web của mình, tiếp tục sử dụng Google AdWords vừa không đắt và là một quảng cáo cực kỳ có hiệu quả. JustAnswer cũng đăng quảng cáo về mình trên những forum về động vật nuôi trong nhà và xe hơi.

Hiện nay JustAnswer có tới hơn 15 triệu người đăng ký sử dụng, gần 20.000 chuyên gia trong 90 lãnh vực khác nhau, từ sức khoẻ tới tư pháp và xe hơi. Nó hoàn toàn là một mạng rộng lớn trên thế giới gồm khách hàng tại 145 nước.

JustAnswer cũng thành công lớn với việc sử dụng những mạng nhỏ nhưng có tính chất tập trung cao. Để tăng thu nhập Andy rất chú trọng tới việc phản ứng đúng lúc trước sự gia tăng của các câu hỏi gắn liền với mùa, các sự kiện và thậm chí cả một mục tin nào đó.

"Nhờ linh hoạt, có kiểm soát và minh bạch bằng việc đăng quảng cáo qua Google AdWords, chúng tôi có thể trả lời trước các xu hướng nhanh chóng và kịp thời. Chúng tôi thực sự có thể tác động lên chúng.", Andy nói.

Cuối năm 2008 với xu hướng như thế với Google AdWords JustAnswer đã có khả năng phục vụ một lượng lớn khách hàng liên quan tới vấn đề khủng hoảng kinh tế. Các câu hỏi về chuộc lại tài sản tăng 20 %, về vấn đề thất nghiệp tăng 14 %, về phá sản tăng 7%.

Số phận của báo chí trong kỷ nguyên truyền thông xã hội

Báo chí – loại hình truyền thông “dòng chính” đang phải cạnh tranh khốc liệt với truyền thông xã hội, trước viễn cảnh sẽ không có tổ chức nào độc quyền sở hữu thông tin.

Truyền thông xã hội được đánh giá vừa quá cao vừa quá thấp. Nguồn:blogspot

Blog và Twitter giờ đây đóng vai trò quan trọng trong chiến lược giao tiếp và thông tin của các cá nhân, tổ chức và thậm chí quốc gia. Tuy nhiên, các cuộc nghiên cứu cho thấy việc sử dụng và sự tác động của các phương tiện truyền thông xã hội vẫn chưa được tìm hiểu kĩ.

Chưa được đánh giá đúng mức

Vừa qua, một hội nghị tại Oxford (Anh) đã được tổ chức để tìm hiểu mối tương tác giữa Internet và ngành công nghiệp thông tin.

Hội nghị truyền thông xã hội 2009 tập trung đánh giá sự phát triển, tác động và tiềm năng của truyền thông xã hội để có cái nhìn về các phương tiện truyền thông xã hội khác nhau và tác động như thế nào trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Trong đó, mối quan hệ giữa blog và các phương tiện truyền thông “dòng chính” được hội nghị đặc biệt quan tâm.

Richard Sambrook – Giám đốc của BBC Global News Division nhận định: sự tác động của phương tiện truyền thông xã hội được đánh giá quá cao nếu xét trong quãng thời gian ngắn vừa qua, nhưng lại được đánh giá chưa đúng mức nếu xét về lâu về dài.

Richard thừa nhận rằng truyền thông “dòng chính” đang dần thích nghi với sự “lấn sân” của truyền thông xã hội như blog và Twitter; tuy nhiên, chưa có ai đề cập về sự tác động lâu dài của sự “lấn sân” này.

Sự tác động về lâu về dài là như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, Richard khẳng định rằng về lâu dài, sẽ không có một tổ chức nào độc quyền sở hữu thông tin.

Xã hội đã xuất hiện hiện tượng: với sự tham gia của bộ phận công dân làm báo, nhiều thông tin không còn được giấu kín mà sẽ được chia sẻ trên các phương tiện thông tin xã hội. Do đó, Richard cho rằng bộ phận làm báo này cũng nên được đánh giá đúng tầm quan trọng.

Đòi hỏi cấp thiết

Theo Richard, thông tin từ Internet, từ các phương tiện truyền thông xã hội có ưu điểm là khách quan. Tính khách quan là một yếu tố quan trọng của tin tức. Tính khách quan giúp người lĩnh hội thông tin tin tưởng vào các phóng viên.

Nhưng, trong kỷ nguyên truyền thông mới, tính minh bạch lại chính là điều mà những người truyền tải tin tin tưởng. Điều đó có nghĩa là, về bản chất – thông tin vẫn phải chính xác và khách quan.

Nhưng, một điều khác quan trọng không kém đối với độc giả, khán thính giả là họ muốn xem tin tức đó từ đâu mà ra, được sản xuất như thế nào? Việc truyền tải thông tin cũng quan trọng không kém gì việc phát hiện ra tin tức đó.

“Tin” không phải là báo chí

Richard bình luận: mỗi sáng, khi bạn mở Twitter, bạn thấy có rất nhiều thông tin mới, thì đó chỉ là tin, chứ không phải là tin tức mà báo chí đưa. Tin tức báo chí đòi hỏi có sự phân tích, tính kỷ luật, sự giải thích và bối cảnh rõ ràng. Vì vậy, tin tức do các nhà báo, phóng viên cung cấp luôn có tính chuyên nghiệp và sự khác biệt.

Richard lạc quan tin tưởng về tương lai của báo chí trong sự cạnh tranh khốc liệt giữa truyền thông “dòng chính” và truyền thông xã hội.

Dù vậy, các nhà báo nên nhớ một quy luật là nếu bạn cho rằng bạn đang ở một cuộc thi cạnh tranh với Internet thì bạn phải tìm ra cho mình con đường riêng để chiến thắng. Hợp tác, cởi mở, giao lưu văn hóa là những gì bạn không nên bỏ qua trong thời khắc này, Richard cho biết thêm.

Bộ phận quan trọng của truyền thông

John Kelly – cây bút bình luận của Washington Post có bản báo cáo về những thách thức và giá trị của “báo chí công dân” cho một nghiên cứu về báo chí của viện Reuters (Anh). Kelly cho biết: Huffington Post không chỉ cạnh tranh với Washington Post về việc đưa tin, mà cạnh tranh cả về độc giả.

Theo Kelly, truyền thông xã hội không chỉ quan trọng đối với “báo chí công dân”, mà quan trọng đối với cả người đọc. Các phương tiện truyền thông truyền thống đang tìm cách sử dụng truyền thông xã hội để đạt được số người theo dõi với số lượng lớn.

Theo bản báo cáo của Kelly, Washington Post vẫn còn chần chừ trong việc coi trọng các bài viết của công dân làm báo. Mảng Thể thao của tờ này là mảng có nhiều bài viết do độc giả thực hiện nhất. Đây là những bài tổng hợp về các cầu thủ đá bóng của Mỹ từ Twitter.

Jonathan Ford – biên tập, bình luận viên của hãng Reuters cho rằng đối với một hãng thông tấn như Reuters thì việc để truyền thông xã hội góp mặt trong việc đưa tin là một quyết định khá khó khăn. Reuters là một hãng tin lớn, nếu các bài của hệ thống truyền thông xã hội mắc lỗi thì điều này sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng của hãng.

Bản báo cáo của Kelly cho thấy: Ở khía cạnh thông tin tài chính, Reuters lại rất quan tâm đến blog nhằm thiết lập một cộng đồng chuyên cung cấp thông tin và tin tức cụ thể về thương mại. Bởi lẽ trên thực tế, truyền thông xã hội đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực tài chính.

Chẳng hạn, chuyên gia kinh tế Paul Krugman hay các giám đốc ngân hàng đều chia sẻ thông tin với công chúng thông qua truyền thông xã hội để lôi kéo nhiều người vào các cuộc tranh luận về tài chính, và từ đó lấy được lòng tin của những người này. Trên Twitter, thậm chí, một dòng chữ “Các chủ ngân hàng sử dụng blog để lấy lòng tin. Ai quan tâm?” đã thu hút nhiều người bình luận.

(Theo Tuần Việt Nam)

Doanh thu quảng cáo trực tuyến xuống thấp kỷ lục

Các nhà tiếp thị trực tuyến nói rằng chi tiêu sẽ sụt giảm trong nửa cuối năm 2009, tuy nhiên mức giảm được dự báo có thể sẽ chậm lại

Theo như báo cáo mới đây được công bố bởi cơ quan theo dõi thị trường eMarketer thì thị trường quảng cáo trực tuyến đang ở mức đáy thấp nhất trong vài năm trở lại đây.

Công ty nghiên cứu đã hợp nhất các bản báo cáo chi tiêu từ nhiều nguồn khác nhau để đưa ra dự báo riêng của nó dành cho mảng thị trường quảng cáo số, và dự đoán rằng mức chi tiêu có thể sẽ tiếp tục giảm trong nửa cuối năm 2009 nhưng tỉ lệ giảm này có thể sẽ chậm lại.

eMarketer căn cứ vào đánh giá đó chủ yếu dựa trên những con số thống kê đưộc về chi tiêu quảng cáo trực tuyến mới được công bố đầu tuần này bởi Cục quảng cáo tương tác Interactive Advertising Bureau và công ty kiểm tóan PricewaterhouseCooper và đã tìm ra rằng tổng doanh thu đã giảm khoảng trung bình 5.3% qua các năm còn 10.9 tỷ đô la Mỹ.

Tuy nhiên, việc thị trường quảng cáo phải đối mặt với nhiều thông tin ảm đạm mà vẫn chỉ giảm có 1% trong suốt sáu tháng đầu năm đã thực sự giấy lên những lạc quan bước đầu cho những tháng cuối năm. Thực sự thì chính eMarketer cũng gọi sự suy giảm nhẹ đó là một điều đáng ngạc nhiên.

Vì thế trong bản báo cáo nhà phân tích David Hallerman có viết rằng trong khi những dự báo ước lượng ban đầu chỉ ra chi tiêu quảng cáo số sẽ tiếp tục sụt giảm nhưng tỉ lệ giảm đó được nhiều người mong là sẽ thấp hơn mức giảm 5.3% trong sáu tháng đầu năm.

Hallerman cũng dự đoán rằng các hệ thống quảng cáo trực tuyến- ngành mà nhiều người vẫn cho rằng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng khi nền kinh tế suy thoái, sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong những tháng cuối năm, đặc biệt là khi ngày càng có nhiều các khoản chi tiêu cho quảng cáo sẽ tập trung vào những chiến thuật thu hút sự hưởng ứng trực tiếp từ phía người xem.

Ông còn cho biết thêm “Đối với các nhà quảng cáo, các khoản chi phí tương đối thấp của các banner quảng cáo mua từ các hệ thống đã tiếp tục thu hút thêm nhiều khoản chi tiêu mới. Còn với các nhà xuất bản, sự cạnh tranh doanh thu quảng cáo mới chỉ bắt đầu tăng, khi ngày càng có nhiều trang cung cấp nội dung cũng như lượng độc giả ghé vào các trang trên không ngừng gia tăng.”

(Theo VietNamBranding)

Truyền thông thời “internet mở”

Trong khi ngành công nghiệp báo chí truyền thống của Mỹ đang gần như hấp hối thì “Internet mở” đang được đề cao với nhiều hy vọng về một viễn cảnh xán lạn.


Thời đại của kỹ thuật số. Nguồn: broadband-finder.co.uk

Theo một nghiên cứu mới về nhu cầu thông tin công cộng trong thời đại kỹ thuật số, chính phủ Mỹ nên thúc đẩy một kế hoạch “tham vọng” cho các hệ thống băng thông rộng toàn cầu và đảm bảo rằng các hệ thống này không hạn chế nội dung và ứng dụng.

Nghiên cứu này được thực hiện trên diện rộng, kêu gọi những ý tưởng mới để chia sẻ tin tức và thông tin, thậm chí ngay cả khi ngành công nghiệp báo chí truyền thống gần như đang hấp hối.

Tác giả của nghiên cứu là Hội đồng Hiệp sỹ, một nhóm gồm 17 chuyên gia về chính sách công, Internet và tin tức. Họ cho rằng: “Đã đến thời của những tư duy mới và táo bạo để thúc đẩy mạnh mẽ cơ hội tiếp cận thông cho người dân Mỹ, thông tin y tế cho các cộng đồng trong nước và giá trị của nền dân chủ Mỹ”.

Nhiều đảng viên Đảng Dân chủ và các nhóm khách hàng đang tranh luận sôi nổi về các nguyên tắc cho dự luật tính trung lập của Internet hay còn gọi là “Internet mở” tại Washington. Các ý kiến đưa ra muốn mở rộng thêm các dự luật cấm những nhà cung cấp dịch vụ băng thông rộng khóa hoặc làm chậm nội dung cũng như các ứng dụng Web. Nếu có thêm nhiều nhà cung cấp băng thông rộng tham gia vào công việc kinh doanh nội dung Web, họ sẽ phải nỗ lực ưu tiên nội dung của mình hơn nội dung của các đối thủ.

Tuy nhiên, nhiều nhà cung cấp băng thông rộng và các đảng viên Đảng Cộng hòa cho rằng: những quy định này không thực sự cần thiết và có thể làm tổn hại khả năng quản lý mạng và bảo vệ khách hàng trước các cuộc tấn công trực tuyến.

Nhưng Hội đồng Hiệp sỹ trong đó có cả các đảng viên Dân chủ và Cộng hòa lại đưa ra quan điểm: “các mạng mở rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng.”

Hội đồng này đang kêu gọi đầu tư nhiều hơn để đưa băng thông rộng tới các vùng xa xôi, bởi có tới 1/3 số nông dân chưa thể tiếp cận được với hệ thống này. Báo cáo của Hội đồng chỉ 1/3 hộ gia đình có thu nhập dưới 20 000 đôla Mỹ thuê bao băng thông rộng.

Theo báo cáo, Chính phủ Mỹ cũng nên tránh các quy định gây khó khăn cho các loại hình báo chí mới như báo chí phi lợi nhuận. Hiện nay, các mô hình báo chí mới đang trên đà phát triển rầm rộ nhưng báo chí điều tra và dịch vụ công cộng truyền thống lại đang phải chịu “sức ép” nghiêm trọng.

Phục hưng ngành truyền thông, báo chí truyền thống đứng ngoài cuộc

Nghiên cứu cho biết: “Thời đại kỹ thuật số đang tạo ra một sự phục hưng cho truyền thông và thông tin. Nhưng nó vẫn không thể phục vụ tất cả mọi công dân Mỹ và cộng đồng địa phương một cách công bằng. Cách chúng ta phản ứng – về mặt cá nhân hoặc tập thể – với sự thiếu dân chủ này đều ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của chính chúng ta và các cộng đồng dân cư Mỹ”.

Nhóm nghiên cứu kêu gọi Chính phủ Mỹ tăng cường hỗ trợ cho truyền thông công cộng và thúc đẩy những nỗ lực giải trình và sự minh bạch của chính phủ được Tổng thống Obama phát động. Chính quyền địa phương nên tổ chức các cuộc họp dân biểu để xác định các vấn đề của địa phương mình, đồng thời các công ty tư nhân và các viện nghiên cứu địa phương như thu viện nên thành lập các trung tâm tin tức và thông tin trực tuyến ở mỗi khu dân cư.

Nghiên cứu này nhận định: đây đang là thời khắc cơ hội của chính trị và báo chí. Các tác giả nhận xét: “Các tổ chức thông tấn trong đó có nhiều doanh nghiệp báo chí truyền thống đang bắt tay với truyền thông mới bằng nhiều cách riêng và hiệu quả để phát triển những cơ cấu tiên tiến trong việc tiếp cận và phổ biến thông tin. Các nhà lãnh đạo và nhiều cơ quan chính phủ đang khoanh vùng những chương trình nghị sự đầy tham vọng cho Internet mở. Tiềm năng sử dụng công nghệ nhằm tạo ra một nền dân chủ minh bạch và liên thông dường như chưa bao giờ sáng lạn hơn.”

Một vài nhà diễn giả đã không giấu nổi sự thất vọng vì sự xuống dốc của báo chí truyền thống tại buổi công bố công trình nghiên cứu. Ông John Caroll, thành viên Hội đồng Hiệp sỹ đồng thời là cựu biên tập tờ Baltimore Sun và Los Angeles Times cho biết: mặc dù các báo đã có đông đảo blogger bình luận về các vấn đề địa phương và những vấn đề khác, nhưng vẫn cần các nhà báo truyền thống để viết và bình luận các câu chuyện cũng như tin tức.

Ông Carol dẫn thống kê từ Dự án Báo chí Ưu tú – một phân nhánh thuộc Đại học Báo chí Columbia cho thấy: 25 % các nhà báo thuộc báo giấy mất việc trong khoảng thời gian 2001-2009. “Đối với tôi, việc lo ngại hơn chính là điều gì có thể sẽ mất đi trong nền tảng kinh tế của chính ngành báo chí”.

Tuy nhiên vẫn chưa có một sự bù lấp nào cho thiếu hụt đó. Ông nói: “Các công nghệ đột phá xuất hiện, rồi chúng phá vỡ đồ đạc, đốt cháy cả ngôi nhà, sau đó chúng lại trở lại với những món quà. Nhưng lại có một khoảng thời gian khá là khó chịu giữa giai đoạn thiêu rụi ngôi nhà và giai đoạn hoàn thiện các quà tặng”.

Nhưng Reed Hundt, nguyên Chủ tịch Ủy ban Truyền thông Liên bang Hoa kỳ nhấn mạnh rằng nhiều trường đào tạo báo chí đang ra sức tuyển sinh bởi nhiều bạn trẻ đang tìm kiếm các cơ hội mới ở báo chí phi truyền thống. Cuối thế kỷ 20, ngành công nghiệp báo in thường được xem là chuẩn mực cho những giá trị cơ bản của nghề báo, nhưng bây giờ điều đó không xảy ra nữa.

Ông Hundt cho rằng, thời đại này đang chứng kiến nỗi mất mát to lớn của các nhà báo, những người đang làm nên một điều vĩ đại cho nước Mỹ.

(Theo Tuần Việt Nam)

Quảng cáo trực tuyến “lên ngôi” trong khủng hoảng

Theo báo cáo mới nhất của Cục quảng cáo tương tác, quảng cáo trực tuyến đang ngày càng phát triển, ngay cả trong thời kỳ suy thoái kinh tế hiện nay.

Những số liệu mới được công bố từ Cục quảng cáo tương tác (Interactive Advertising Bureau – IAB), hãng kiểm toán hàng đầu thế giới PricewaterhouseCoopers (PwC) và Trung tâm nghiên cứu quảng cáo thế giới cho thấy tiền đổ vào hoạt động quảng cáo trực tuyến đã tăng 4,6% trong nửa đầu năm nay và lần đầu tiên vượt qua lĩnh vực quảng cáo truyền hình truyền thống.

Chi tiêu dành cho quảng cáo trực tuyến đã lên đến 1,75 tỷ bảng Anh và hiện chiếm 23,5% trong doanh thu toàn thị trường quảng cáo. Đây là những con số kỷ lục trong ngành công nghiệp mà gần 17% hợp đồng được kí kết trong thời kì suy thoái này.

“Quảng cáo trên Internet đã vượt lên mọi sự mong đợi để đạt được sự tăng trưởng trong điều kiện thị trường khó khăn nhất”, Guy Phillipson, giám đốc điều hành của IBA khẳng định.

Quảng cáo trực tuyến đã chứng minh tính vượt trội so với các loại hình quảng cáo khác như tivi, in ấn và phát thanh. Mặc dù ngành quảng cáo đã đánh mất 1,5 tỷ bảng. Chúng tôi đã xuống dốc trong một năm trước nhưng ngay cả trong điều kiện kinh tế khắc nghiệp, các nhà tiếp thị vẫn nhận ra được những giá trị, trách nhiệm và giá cả phải chăng của quảng cáo trực tuyến”.

Cũng theo bản báo cáo, việc trả tiền để tìm kiếm đang ngành càng giành ưu thế với các nhà quảng cáo. Hoạt động này chiếm khoảng 60% doanh thu quảng cáo trực tuyến.

Các nhà tiếp thị đã rót 1,05 tỷ bảng Anh dưới hình thức quảng cáo, chiếm 59,8% tổng số kinh phí dành cho quảng cáo trực tuyến của họ. Lĩnh vực quảng cáo công nghệ mang lại nhiều tiền nhất và chiếm 19% doanh thu toàn thị trường. Viễn thông đứng thứ hai với 14% và tài chính xếp thứ ba với 13%.

“Có lẽ rất đáng để ngạc nhiên, một nền kinh tế “thụt lùi” lại là đòn bẩy cho công nghệ kĩ thuật số. Vì thế, mà có sự “đổi ngôi” từ các hình thức quảng cáo truyền thống sang quảng cáo trực tuyến. Lĩnh vực này hứa hẹn rất đáng để đầu tư và tính phải chăng trong một thời kì bất ổn”, Eva Berg-Winters, chuyên gia quảng cáo trực tuyến tại PwC cho hay.

(Theo Dân Trí)

Google với giải pháp cứu ngành công nghiệp báo chí

Kẻ thù truyền kiếp của rất nhiều tổ chức hoạt động trong ngành công nghiệp tin tức, Google, vừa có một nỗ lực nhằm cải thiện mối quan hệ này một cách đáng kể. Đó là giới thiệu một dịch vụ hy vọng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho độc giả.

Đọc tin Google như lật báo in

Thứ Hai (14/9/2009), Google giới thiệu một trung tâm tin tức thử nghiệm gọi là Fast Flip. Sử dụng trung tâm tin tức này, độc giả có thể đọc vô số bài báo từ rất nhiều nhà xuất bản lớn mà chỉ cần “lật” nhẹ như lật các trang trong một tờ báo. Google sẽ bố trí những mẩu quảng cáo xung quanh bài báo và hứa sẽ chia lợi nhuận thu được từ quảng cáo này cho các nhà xuất bản.

Fast Flip, dựa trên Google News, là nỗ lực của Google nhằm khắc phục nhược điểm của trang web này khi độc giả phải mất rất nhiều thời gian chờ đợi trang web chuyển hướng để đọc tin. Chính điểm yếu này đã khiến số lượng độc giả của trang giảm. Google, người dẫn đầu trong dịch vụ tìm kiếm web và quảng cáo cho rằng đọc báo online gần giống như scan các tờ báo hoặc tạp chí được xuất bản sẽ giúp độc giả đọc được nhiều tin tức hơn.

Krishna Bharat, một nhà nghiên cứu của Google, người đã triển khai Google News vào năm 2002, phát biểu rằng: “Thời gian tải tin tức trên web chậm hơn rất nhiều so với việc lật giở các trang trong một báo in. Khi thời gian tải giảm xuống thì độc giả có thể đọc được nhiều tin tức và quảng cáo hơn. Và đó chính là điều mà các nhà xuất bản mong muốn.”

Dịch vụ này được hợp tác ban đầu với ba nhóm lớn, bao gồm BBC News, The New York Times, The Washington Post và Newsweek; các tạp chí như Cosmopolitan, The Atlantic, Esquire, Good Housekeeping; và những tờ báo chỉ xuất bản trên Internet như TechCrunch, Salon.com và Slate.

Fast Flip – giải pháp cứu ngành công nghiệp báo chí hay lại một chiêu
“ăn tiền” của Google? (Nguồn: farm4.static.flickr.com)


Sức mạnh của công nghệ

Một số nhà xuất bản tin tức nhìn nhận dịch vụ này một cách thận trọng. Họ cho rằng không có một giải pháp riêng lẻ nào có thể giải quyết được vấn đề chính mà cả nền công nghiệp báo chí đang phải đối mặt. Đó là doanh thu quảng cáo sụt giảm.

Ông Richard Gingras, Giám đốc điều hành Tập đoàn truyền thông Salon, người trước đây đã từng làm việc với tư cách một nhà cố vấn cho các Giám đốc điều hành Google trong các chiến lược truyền thông nhận định:

“Tôi không nghĩ đây không là giải pháp cho nền báo chí trong tương lai. Nhưng ai mà biết được điều gì sẽ xảy ra? Có thể chúng ta có thể thu nhận được những kinh nghiệm từ việc thực hiện dịch vụ này chăng?”.

Fast Flip hiện đã được đưa vào sử dụng trong fastflip.googlelabs.com. Lần đầu tiên, dịch vụ được đưa vào sử dụng như một mục tổng hợp những bài báo của những đối tác của Google.

Các bài báo xuất hiện liên tiếp được sắp xếp hàng ngang theo độ thông dụng của nó đối với độc giả, như mục Chính trị, Thương mại, Du lịch và Giải trí; các chủ đề như tennis, Iran hay ban nhạc The Beatles; và nguồn của thông tin.

Ông Bharat phát biểu rằng: “Chúng tôi muốn tạo cơ hội cho độc giả đắm chìm trong biển thông tin. Nếu họ không thấy có hứng thú với thông tin này thì họ có thể nhanh chóng chuyển sang một thông tin khác mà họ có hứng thú”.

Tính toán khôn ngoan

Google đưa ra kế hoạch hiển thị những mục quảng cáo dọc hai bên bài báo và kết quả doanh thu từ quảng cáo sẽ được chia cho nhà xuất bản tin tức đó. Ông Bharat từ chối đưa ra con số bao nhiêu phần trăm mà Google sẽ giữ lại trong số doanh thu quảng cáo thu được từ dịch vụ này. Nhưng ông cho biết nhà xuất bản sẽ giữ phần nhiều hơn.

Một số tờ báo nhìn nhận kế hoạch này theo cách rất lạc quan. Họ cho rằng nếu kế hoạch này thành công thì Fast Flip có thể cạnh tranh với những trang web tin tức khác đã có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này. Những tờ báo này đã hoàn toàn tin tưởng rằng cuộc thử nghiệm này sẽ đem lại lợi ích cho họ.

Phó Chủ tịch cấp cao quản lý lĩnh vực Hoạt động Số của Công ty The New York Times, ông Martin A. Nisenholtz cho biết: “Tất nhiên đây là vấn đề đáng phải lưu ý. Tuy nhiên không vì vậy mà chúng tôi không tham gia.”

Một số nhà xuất bản tin tức thường phàn nàn về vấn đề liên quan tới lợi nhuận quảng cáo mà Google thu được trên Google.com và Google News mà công ty Google đăng dọc theo nội dung bài báo của họ. Google cho rằng dịch vụ họ cung cấp giúp số lượng độc giả của báo họ tăng lên và nếu như bất cứ nhà xuất bản nào không muốn bộ máy tìm kiếm của Google hiển thị kết quả tìm kiếm liên quan đến tờ báo của họ thì họ hoàn toàn có thể làm như vậy.

Ông Scott Havens, Phó Chủ tịch phụ trách lĩnh vực Hoạt động và Chiến lược Số của The Atlantic cho rằng: “Điều mà dịch vụ này đem lại cho chúng tôi, khi đem so sánh với dịch vụ tìm kiếm, là nó tạo ra một nguồn doanh thu đáng kể từ Google cho tờ báo.”

Ken Doctor, một nhà phân tích, cho rằng việc Google đưa ra quyết định sẽ phân chia doanh thu thu được do nội dung bài báo cho các nhà xuất bản là một thay đổi đáng kể. Ông phát biểu rằng: “Đây có thể là một sự nhượng bộ trong tính toán của Google nhằm thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với các nhà xuất bản và việc chia doanh thu thu được từ nội dung bài báo cũng có thể là hành động thể hiện sự hợp lý hóa sự việc của Google.”

*** ***

Trong khi một số tờ báo lớn tham gia vào cuộc thử nghiệm dịch vụ của Google thì một số chuỗi các tờ báo nổi tiếng khác như News Corp., Gannett, McClatchy, Tribune và MediaNews lại không quan tâm đến dịch vụ này.

Ông Bharat cho rằng trong khi Fast Flip cố gắng lập lại một số thói quen đọc báo in, thì có thể dịch vụ này không phù hợp với một số đặc điểm của rất nhiều trang web. Hơn nữa, sự thành công của dịch vụ này một phần dựa vào các thuật toán của Google và một phần dựa vào thói quen của độc giả khi xếp loại bài báo đó. Những độc giả khác lại chọn bài báo đó hoặc gửi mail bài báo nào được xếp loại cao. Và khi độc giả lưu bài báo nào họ thích thì bạn bè của họ theo lẽ thường sẽ chú ý tới bài báo đó nhiều hơn.

Ông Bharat cho biết Google còn đề nghị cho phép phiên bản của Fast Flip của Google xuất hiện trên một số hãng điện thoại di động, và có thể cho phép các nhà xuất bản tin tức sử dụng Fast Flip ngay trên trang web của họ.

(Theo Tuan VietNam)

Chiến lược quảng cáo trực tuyến tiết kiệm

Internet đang ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt giúp cho việc quảng cáo của doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều về chi phí.

Và từ khi nền kinh tế suy thoái, nhiều website quảng cáo lớn đã bị suy giảm về lợi nhuận và họ sẵn sàng đàm phán và thỏa thuận. Dưới đây là một vài chiến thuật tiếp thị trực tuyến giá rẻ:

SEO

Một trong những dạng rẻ nhất của tiếp thị trực tuyến là cải thiện thứ hạng tìm kiếm của website công ty trên Google và Yahoo!.

Mẹo để thành công đó là cần phải chắc chắn rằng bạn nằm trong doanh mục trực tuyến phổ biến như YellowPages.com và DexKnows.com. Trong khi những cuốn danh bạ điện thoại có thể lỗi thời thì những danh mục trực tuyến vẫn phổ biến và sẽ xây dựng sự có mặt của bạn trên internet.

Quảng cáo Banner

Hãy cân nhắc việc trả tiền cho quảng cáo trong mục text để doanh nghiệp được xuất hiện trên vị trí đầu của kết quả tìm kiếm. Chương trình AdWords phổ biến của Google là một kiểu kinh doanh nhỏ khá tiện lợi: không tốn ngân sách và bạn chỉ phải trả tiền khi khách hàng click vào quảng cáo. Khi có nhiều trang web khác sử dụng Google để tìm kiếm trong site của họ – và cũng như việc trưng bày các quảng cáo khác, thì bạn phải có cách khác để tăng hình ảnh của mình.

Nếu doanh nghiệp mang tính địa phương là chủ yếu thì hãy cân nhắc đến các site nhỏ như CitySearch hoặc Yelp. Hầu hết các trang này cho phép doanh nghiệp tạo được các dữ liệu khách hàng miễn phí hoặc với một số tiền rất nhỏ – dù là CitySearch có cả video. Bạn cũng có thể mua quảng cáo trên Yelp và CitySearch để đưa công ty lên vị trí hàng đầu của kết quả tìm kiếm.

Chú ý: Bởi vì các site này luôn luôn có số người truy cập lớn và thay đổi thường xuyên, nên thứ hạng tìm kiếm trang của họ cao, vì thế bạn cũng phải làm tăng hình ảnh tìm kiếm nhưng không phải chi phí thêm.

Đàm phán

Nếu bạn muốn xuất hiện trên các website lớn để có thể quảng cáo dễ dàng hơn, hãy gặp trực tiếp người đại diện đại lý quảng cáo và đưa ra lời đề nghị. Cơ hội là họ sẽ dành cho bạn những khoảng trống còn thừa và có thể sẵn sàng giảm giá.

Các mạng lưới quảng cáo

Sự xuất hiện của các mạng lưới quảng cáo phức tạp đã trở thành mối lợi cho các chủ doanh nghiệp nhỏ. Những mạng lưới này sử dụng phần mềm tiên tiến để nhận ra nhân khẩu học một cách đúng nhất của người sử dụng internet. Thông qua những mạng lưới này, bạn có thể hướng quảng cáo tới những người lướt web trong một thành phố nhỏ hoặc trong một nhóm người.

Các phần mềm của họ thu hút người đến thăm vào website của bạn (người không mua sản phẩm) phân tích việc sử dụng internet của họ và đặt các quảng cáo tiếp theo trên site mà họ thường xuyên ghé thăm.

Bởi vì chúng được tích trữ trong máy tính cho nên chiến lược quảng cáo này rất rẻ, có thể chỉ mất khoảng 4 đến 8 đô la CPM thay vì 40 đô la như các quảng cáo trực tuyến thông thường khác.

Pay-Per-Click

Đối với quảng cáo Pay-Per-Click đôi khi không đến từ những khách hàng thực. Nếu bạn cung cấp các công cụ kiểm tra, bạn thậm chí có thể đề ra một thỏa thuận cho mỗi quảng cáo. Trong trường hợp này, nếu quảng cáo của bạn không hiệu quả thì bạn không phải trả tiền và bạn có thể dễ dàng thay đổi nội dung quảng cáo.

Hiền Trang

(Theo ER)

5 lầm tưởng sẽ giết chết lời quảng cáo

Có những cách giúp bạn viết lời quảng cáo được hay nhưng có những sai lầm bạn dễ mắc phải mà chúng sẽ phá hủy thông điệp tiếp thị và làm giảm ROI của công ty.

Dù bạn làm bất kể điều gì thì không nên tin vào 5 lầm tưởng được liệt kê dưới đây.

1. Người tiêu dùng quan tâm đến tôi và doanh nghiệp của tôi

Không. Họ không hề. Họ chỉ quan tâm đến những cái mà họ có được sau khi mở ví tiền mua sản phẩm/dịch vụ của bạn thôi. Họ không quan tâm đến việc bạn có phải là thành viên của một tổ chức lâu năm hay không và họ không quan tâm những đứa trẻ của bạn đáng yêu như thế nào trên các mẩu quảng cáo. Người tiêu dùng quan tâm đến nhu cầu của họ và mong muốn đạt được tất cả. Mục tiêu của copywriting là để thuyết phục người tiêu dùng rằng sản phẩm/dịch vụ mà bạn đang bán sẽ gặp nhu cầu và mong muốn của họ. Mặt khác, bản quảng cáo phải chú trọng đến lợi ích mà người tiêu dùng sẽ nhận được nếu họ mua sản phẩm/dịch vụ của bạn. Thật tuyệt vời nếu doanh nghiệp của bạn hoạt động được 10 năm, nhưng hầu hết, người tiêu dùng chỉ thực sự quan tâm xem doanh nghiệp của bạn có thể làm gì cho họ và làm cho cuộc sống của họ thú vị hơn như thế nào.

2. Tôi có thể sử dụng những lời quảng cáo tương tự nhau ở mọi nơi

Không. Bạn không nên làm điều này. Lời quảng cáo của bạn cần thay đổi phụ thuộc vào phương tiện truyền thông mà bạn đang sử dụng. Chẳng hạn, nếu bạn đang viết lời quảng cáo cho tấm billboard treo ngoài trời mà khách hàng chỉ có thể xem nó trong vòng vài giây trong giờ cao điểm thì thông điệp của bạn phải thật ngắn gọn, trọng tâm và không có nơi trống cho sự lộn xộn. Tuy nhiên, nếu bạn đang viết lời quảng cáo cho mẩu direct – mail được gửi cho những người nhận thông tin về doanh nghiệp thì lời quảng cáo đó cần phải chi tiết với các thông điệp mang tính giải thích, trả lời các câu hỏi và tạo một cảm giác thúc giục khách hàng phản hồi.

3. Tôi có thể sử dụng những lời quảng cáo cho tất cả mọi người

Không, đó không phải là ý tưởng hay. Những khách hàng khác nhau sẽ phản ứng với những thông điệp khác nhau phụ thuộc vào nhân khẩu học, cách ứng xử, kinh nghiệm…Chẳng hạn, nếu bạn đang viết lời quảng cáo cho direct – mail được gửi tới những khách hàng quan trọng, thì thông điệp của bạn cần phải khác để xuất hiện trong email gửi tới khách hàng triển vọng.

4. Tôi muốn lời quảng cáo thật bay bổng

Không phải luôn luôn là như vậy mà nó chỉ cần hướng tới đối tượng khách hàng. Ngôn ngữ và giọng điệu lời quảng cáo nên nói trực tiếp với những người muốn nhìn thấy nó. Chẳng hạn, nếu bạn đang viết lời quảng cáo cho tuổi teen, thì lời quảng cáo của bạn cần hơi khác đối với lời quảng cáo mục tiêu hướng tới các đối tượng là người trung tuổi.

5. Viết lời quảng cáo quá dễ dàng

Chẳng bao giờ là dễ cả. Viết lời quảng cáo không giống như dạng thức viết khác. Nó không tuân theo các quy tắc mà bạn học trong tiếng anh, và nó tin nhiều vào sự thuyết phục tinh tế, tâm lý, sự sáng tạo và hiểu biết về doanh nghiệp và khách hàng hơn. Không phải tất cả các nhà văn đều là copywriters giỏi. Nếu bạn quyết định viết lời quảng cáo riêng, hãy nghiên cứu bản thảo trước khi đặt bút lên giấy. Và nếu bạn quyết định thuê một copywriter để giúp, hãy nhớ rằng không phải tất cả copywriter đều giống nhau. Bạn chỉ nên đầu tư và dành thời gian vào một copywriter, người có nhiều kinh nghiệm và hiểu doanh nghiệp, khách hàng của bạn.

Hiền Trang

(Theo ER)

Thế giới ảo – Một lãnh địa mới của hoạt động quảng cáo?

Ngày nay, truyền thông cổ điển không gây chú ý nhiều đối với giới trẻ và cả những người có tâm hồn trẻ trung. Hướng mới mở ra là vấn đề về các thành viên tham gia. Một khi tạo mối quan hệ tốt với những khán giả này thì cách quảng cáo qua video là rất hữu hiệu.


Đội bóng chày chuyên nghiệp, Coca Cola, Ngân hàng Well Forgo, khách sạn W, và Hiệp hội chống ung thư Mỹ có điểm gì chung? Họ tận dụng thế giới ảo để tiếp cận với khách hàng tiềm năng và tài trợ bằng những phương pháp mới lạ.

Chẳng hạn như công ty Massive, hiện thuộc Microsoft. Ban đầu Massive mang tên “Lost Boys” (dành cho lứa tuổi từ 18 đến 34) những người ít để ý đến phương tiện truyền thông.

Phân khúc thị trường dành cho quảng cáo chiếm khoảng 12 tỷ đô la trong truyền hình và 10 triệu đô la cho sản phẩm trò chơi video. Thách thức lớn của các nhà quảng cáo là việc giảm lượng khán giả xem truyền hình mà thay thế bằng các nhu cầu giải trí khác như (internet, nghe nhạc, gửi tin nhắn) hoặc đơn giản là bỏ qua các quảng cáo thông qua truyền hình hoặc các công cụ ghi âm khác. Một vấn đề muôn thưở của các nhà quảng cáo là không có khả năng đo lường trực tiếp kết quả hay lợi ích thu được từ nguồn đầu tư (ROI).

Nhận định giá trị của công ty Massive là cần “chèn” những quảng cáo vào các trò chơi video được chọn lọc trên internet, hiển thị trên màn hình trò chơi. Massive làm việc với các nhà sản xuất trò chơi video để tạo mã cho chương trình cho phép quảng cáo trong phạm vi trò chơi. Đồng thời, dữ liệu ấn tượng chạy ngược vào Massive trở thành khối dữ liệu cho các nhà quảng cáo. Các dữ liệu này cho phép các nhà quảng cáo điều chỉnh nội dung cơ bản đang diễn ra nhằm đạt hiệu quả cao hơn.

Thoạt đầu, các nhà quảng cáo có nguồn dữ liệu cho mục quảng cáo của họ mà mục tiêu của nó nhắm đến là tìm kiếm khán giả. Phần lớn các trò chơi trên internet đòi hỏi phải trả tiền và các thông tin cá nhân, các thành viên tăng lên thấy rõ.

Một lĩnh vực tiềm năng cho quảng cáo là những thế giới ảo. Ví dụ như Second life (cuộc sống khác) và Entropia Universe mang đến nhiều cơ hội cho người chơi liên lạc với nhau trong nhiều hình thức mà với các phương tiện truyền thông trước kia không làm được. Với cách cài đặt như thế, mỗi cá nhân có thể tạo một “hiện thân” 3 chiều (một con người với nhiều cá tính tuyệt vời) qua việc đi đứng, bay hoặc gọi điện, có thể thám hiểm vào các thế giới tưởng tượng.

Những không gian ảo này có vô số hình thù và giống các con đường của thành phố ở Amsterdam, lối đi bộ vào viện bảo tàng Louvre ở Paris hay đang đứng trên con tàu Titanic – đứng trong tư thế giống như Rose và Jack ! Đóng vai một người khác trong “Second life” bạn có thể kiếm được một mảnh đất, xây một ngôi nhà và một cửa hàng ngay ngoài sân, tiện cho việc mua sắm quần áo và các thứ cần dùng trong nhà. Trong thế giới này, bạn cũng có thể đổi đô la thật, ranh giới giữa thật và ảo trở nên lu mờ.

Thêm nữa, bạn có thể tạo mối quan hệ với hàng xóm, hoặc một nhóm nào đó cùng sở thích và hoàn cảnh để chia sẻ. Vài tổ chức sáng tạo đã tạo một nơi gặp gỡ như thế để thu hút giới trẻ và tạo thành làn sóng mang thương hiệu của họ vào các hoạt động hay môi trường .
Với các thành viên cảu Coca-Cola, phim trường của Coke là nơi mà giới trẻ tuổi mới lớn có thể kết hợp âm nhạc vào phòng quay ảo, giành điểm “decibel” bằng cách trình phong cách của họ với các thành viên khác.

Với số điểm có được, họ có thể mua các thứ như đồ đạc dùng trong nhà cho phòng ghi âm của mình. Điểm có được nhờ tham gia các trò chơi và các hoạt động khác. Cho dù đang đi trên đường hoặc đang trả lời cuộc thi vấn đáp thì vạch trắng và đỏ (logo của Coke) luôn hiện diện ở phía sau, trên giấy dán tường, khu vực xung quanh như người xây dựng thương hiệu năng động. Sự tiếp cận tế nhị này mang lại sự hiểu biết rộng hơn, cũng giống như các chương trình quảng cáo, cho phép mỗi người tương tác với thương hiệu.

Còn về thương hiệu mang tính giáo dục? Nếu bạn làm việc cho cơ quan tài chánh, bạn cũng sẽ thành công trong việc tạo sân chơi cho thế hệ mới nhằm tuyên truyền thương hiệu của bạn. Chẳng hạn như Fargo đã tạo hòn đảo Stagecoach Island trong Second life như một trò chơi tìm hiểu về tài chánh ảo trực tuyến thực sự đầu tiên.

Sự pha trộn của giải trí và học hỏi mang lại thành công hơn các phương tiện truyền thông cổ điển là điều hiển nhiên.

Các trò chơi miễn phí trên internet cho phép sinh viên tạo ra các nhân vật trong đảo Stagecoach và có thể giao lưu với các thành viên của đảo khác. Mặc dù các hoạt động này miễn phí như môn nhảy dù ra khỏi máy bay và các trò chơi khác yêu cầu phải trả tiền, nhưng cũng có thể kiếm tiền bằng cách tham gia vào mục “khu dành cho việc học hỏi ảo” (Virtual Learning Lounge) để trả lời các câu hỏi cơ bản về ngân hàng. Các chủ đề có liên quan đến ngân sách, tiết kiệm, sử dụng tiền từ chương trình Well’s Fargo được gọi là “thực hiện nghiệp vụ ngân hàng”. Bằng cách tạo một sự vui nhộn, Well’s Fargo dành cho giới trẻ cơ hội tận hưởng dịch vụ này (máy rút tiền Well’s Fargo ATM ) trong khi cộng tác với các dịch vụ ngân hàng.

Điều gì xảy ra nếu bạn mang thương hiệu mới mẻ vào thị trường cạnh tranh? Chính là trường hợp của Aloft (thương hiệu khách sạn AW) xảy ra năm 2006. Theo Alison Brod thuộc bộ phận giao tiếp của Aloft thì Aloft sẽ là thương hiệu khách sạn đầu tiên mở cửa hoạt động với sự chuẩn bị cài đặt ảo. Khách đến khách sạn có thể tham quan phòng ốc, phòng cho khách ngồi nghỉ, môi trường xung quanh rất tốt trước khi khách sạn khai trương vào năm 2008.

Thương hiệu Aloft được xem như “sự giải thoát” từ một quán ăn, cung cấp dịch vụ cao. Khách đến tham quan được cung cấp ý kiến phản hồi về sự thoải mái như phục vụ thức ăn hay trang trí. Mục đích phía sau sự phát triển trong lãnh vực này là hướng dẫn người tiêu dùng hiểu được thương hiệu bằng cách cho người tham quan thưởng thức phòng kiểu gác xếp và một môi trường phù hợp. Thực chất, Aloft đang xây dựng khách hàng tiềm năng dựa trên cơ sở tạo sự thân thuộc và sử dụng dịch vụ của họ.

Hãy tưởng tượng nếu bạn là một tổ chức phi lợi nhuận với nguồn lực giới hạn. Hội chống ung thư Mỹ gần đây tổ chức một cuộc “diễu hành” qua các con đường ảo nhằm kêu gọi ủng hộ, gây quỹ từ thiện. Trong bài báo gần đây trên trang web On Philanthropy.com, hội chống ung thư Mỹ kêu gọi ủng hộ được 38,000 đô la trong cuộc vận động mang tên “Relay for life”. Cuộc diễu hành này thu hút hàng ngàn người tham gia nhiệt tình. “Chúng tôi hồi hộp chờ đợi sự thành công của chương trình “Second life relay for life” của năm nay” ông Michael Mitchell, phó chủ tịch – giám đốc điều hành Trung tâm cải tiến và định hướng của ban phòng chống ung thư Mỹ phát biểu. “Hiện nay, hơn bất kỳ lúc nào, chúng tôi biết rằng đang có một cộng đồng ảo hoạt động tích cực, hiệu quả trong việc phòng chống ung thư”. Cái hay của việc sử dụng môi trường này là mở rộng phạm vi hoạt động, với chi phí thấp. Từ các hoạt động tồn tại trong thế giới ảo, chi phí tài trợ cho sự kiện hay chi phí phát sinh (như áo thun và phí vệ sinh) có thể kiểm soát được. Với ưu điểm trong thành công của Hiệp hội chống ung thư Mỹ, đây là môi trường thuận lợi cho các hoạt động từ thiện khác.

Còn về số phận của 500 tổ chức? Có kênh quảng cáo khác tồn tại trong thế giới ảo này không? Hãy xem xét các khả năng sau.

Công ty bạn sản xuất các thiết bị của điện thoại cầm tay mới ra đời hữu ích hơn cho người tiêu dùng so với các thiết bị hiện hành khác. Các phương tiện truyền thông cổ điển đạt mục tiêu trong thị trường nhỏ hơn khá chật hẹp và đa dạng hóa sản phẩm. Do bản chất kỹ thuật của việc ra mắt sản phẩm, bạn cần khách hàng có thời gian làm quen với các hoạt động vui nhộn này. Cuối cùng, bạn xây dựng được trung tâm kỹ thuật trong thế giới ảo để chứng minh tính năng của một trò chơi.

Ví dụ, để hướng dẫn người sử dụng về đặc điểm trong GPS, bạn phải tạo một khu rừng nhiệt đới Amazon, hướng dẫn họ đánh dấu đường đi tránh vùng đất lún và thú dữ. Khi hoàn tất trò chơi, họ sẽ “học” được cách sử dụng sản phẩm và khuyến khích người khác tham gia.

Vậy giá trị thật sự của quảng cáo trong thế giới ảo này là gi? Trước tiên, khách hàng có thể trải nghiệm nhiều điều không có trong thế giới hiện tại. Thách thức của sản phẩm trong sự cài đặt ảo này là mang lại một môi trường ít rủi ro mà người ta có thể thử trước và biết rõ về các quyền lợi kèm theo. Bạn có thể thuê một nhân vật làm nhà ngoại giao sản phẩm để trả lời các câu hỏi thông thường. Cũng giống như bạn đang chứng minh sản phẩm và dịch vụ 3 chiều của mình. Video giúp người sử dụng có thêm kinh nghiệm. Trong một số tình huống, kiếm sống bằng cách băng Đại dương cũng có thể thấy được qua vài cài đặt ảo

Vậy môi trường ảo có thể là cách quảng cáo hay một cộng đồng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng? Ngày nay các tổ chức giám sát các trang này để biết xem người ta nói gì là điều rất quan trong. Vậy thế giới ảo có phải là phương tiện tiếp theo dành cho quảng cáo?

(Theo Lantabrand)

Girls Generation - Korean