Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Làm cách nào để xây dựng thương hiệu mà không cần tiêu tốn quá nhiều cho quảng cáo

CEO của Zappos, ông Tony Hsied, không chỉ đưa công ty đạt được con số 1 tỉ đôla doanh số bán hàng mà còn mang đến một ví dụ điển hình về cách xây dựng thương hiệu mà không cần dựa nhiều vào quảng cáo và tiếp thị.

Phương pháp xây dựng văn hoá của công ty và đẩy mạnh thương hiệu bằng những dịch vụ cung cấp cho khách hàng đã thu hút được sự ủng hộ của nhiều tổ chức lớn và nhỏ.
Một trong những phương pháp đặc biệt là: Zappos trả cho mỗi nhân viên sau một tháng đào tạo 2.000 đôla Mỹ để cho họ nghỉ việc.
Phương pháp này nhằm loại bỏ bớt những người không phù hợp với văn hoá công ty (có ít hơn 3% nhân viên nhận tiền và rời khỏi công ty). Theo ông Hsied, phương pháp của công ty là hợp lí. Công ty đã chọn lọc ra 10 giá trị cốt lõi để định hướng cho văn hoá của công ty.
Gần đây, công ty đã tung ra một dịch vụ tư vấn nhắm vào những công ty nằm trong danh sách “Fortune 1000” (1000 công ty hàng đầu ở Mỹ) muốn học hỏi cách tổ chức công ty của Zappo.

Hsied vừa có cuộc nói chuyện với Adweek (và trả lời câu hỏi của Twitter và Facebook) về việc xây dựng thương hiệu mà không cần tiêu tốn nhiều cho quảng cáo, dịch vụ Twitter khác với điện thoại như thế nào, và tại sao Zappos lại đuổi việc những người không phù hợp với văn hoá của công ty.


Tại sao phương pháp của Zappos tạo được tiếng vang?

Tôi nghĩ rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công là chúng tôi rất rõ ràng. Một trong những ưu điểm của chúng tôi là sự cởi mở và chân thành. Nó dẫn đến việc tạo ra sự tin tưởng nhiều hơn cho khách hàng, nhân viên và các đối tác.
Nó trái ngược hẳn với phương pháp mà các nhà kinh doanh khác thường làm. Hầu hết đều tìm cách giữ bí mật bằng những chiến lược rất bí mật.

Tại sao văn hoá của công ty quan trọng?

Chúng tôi tin rằng ngày nay các công ty đã trở nên minh bạch hơn dù cho họ có muốn hay không. Một nhân viên bất bình hay hài lòng có thể viết một cái gì đó trên một trang blog và bài viết đó có thể được hàng triệu người đọc.
Điều tương tự cũng xảy ra đối với các khách hàng. Chúng tôi tin rằng văn hoá và thương hiệu của công ty là hai mặt của một đồng xu. Bạn không thể kiểm soát từng điểm tương tác như 50 năm trước. Cách duy nhất là thay vì kiểm soát từng điểm tương tác, bạn có thể tuyển đúng người với thái độ, suy nghĩ đúng đắn, xây dựng một nền văn hoá tốt đẹp và những cái còn lại sẽ tự động hoàn thiện lên.
Nếu tôi hỏi các bạn về thương hiêu của ngành hàng không, hầu hết sẽ than phiền một vài điều về dịch vụ khách hàng không tốt. Không có một công ty hàng không nào đứng ra và nói rằng họ muốn thương hiệu của họ như thế này hay như thế khác, nhưng đó là thương hiệu chung của cả một ngành công nghiệp.
Làm thế nào mà bạn có thể tiêu tốn ít cho marketing?

Khoảng 75% đơn đặt hàng của bạn là từ những khách hàng cũ. Chúng tôi đã có sự tăng trưởng từ 0 lên đến 1 tỉ đôla doanh thu hàng bán thuần trong hơn 9 năm. Yếu tố hàng đầu dẫn đến sự thành công trên là từ những khách hàng cũ và họ truyền miệng cho nhiều người khác. Yếu tố này giúp chúng tôi tiêu tốn ít hơn cho việc tìm kiếm khách hàng.

Xây dựng thương hiệu là gì?

Các thương hiệu lâu đời và bền vững sẽ ít dựa vào quảng cáo hơn. Quảng cáo bằng cách truyền miệng là một biện pháp hay trong thời điểm hiện tại. Hãy nhìn vào các công ty có thương hiệu mạnh nhất trong Interbrand. Google nằm ở gần top đầu và họ hầu như không dành tiền cho quảng cáo.

Sai lầm lớn nhất mà ông mắc phải là gì?

Sai lầm mà công ty đầu tiên của tôi gặp phải là đã không chú ý vào văn hoá công ty. Chúng tôi tuyển những nhân viên giỏi với kinh nghiệm và kỹ năng thích hợp, Tuy nhiên chung tôi lại không chú ý đến việc họ có phù hợp với văn hoá của công ty hay không. Khi số nhân viên của công ty lên đến con số 100, tôi không còn muốn đến văn phòng công ty nữa. Đó là một cảm giác rất kì lạ. Đó là lý do tại sao chúng tôi đi đến quyết định bán lại công ty.

@maxkalehoff@derekbrookmeyer trên mạng Twitter hỏi: Có những khó khăn gì tại Zappos?

Chúng tôi chuyển đến Las Vegas 4 năm trước. Lý do chúng tôi chuyển tới đây là vì tại Bay Area rất khó tìm được người thích làm công việc dịch vụ khách hàng. Một lý do nữa là chi phí sống và nền văn hoá khác biệt tại nơi này. Tại Las Vegas, chúng tôi nhận được rất nhiều người muốn làm việc với chúng tôi tại hội chợ việc làm.
Chi phí sống tại đây cũng thấp hơn. Nhân viên có thể làm việc tại call center và mua một căn nhà. Khó khăn đối với chúng tôi là thuê những chuyên gia kĩ thuật và một số nhân viên có thâm niên về tài chính và kế toán. Vì vây, chúng tôi quyết định thuê rất nhiều nhân viên từ nơi khác đến đây để làm những công việc này.

David Vanderpoel trên trang Facebook hỏi: làm thế nào bạn có thể cạnh tranh được khi mà chi phí dịch vụ của bạn cao hơn nhiều so với các đối thủ khác?

Câu trả lời của chúng tôi đó là những khách hàng cũ và quảng cáo truyền miệng. dịch vụ giao hàng miễn phí sẽ rất tốn kém. Trong bảng báo cáo lời lỗ (profit and loss), chi phí này được đưa vào phần chi phí hàng bán, nhưng chúng tôi nghĩ đây là chi phí marketing.
Chúng tôi tiêu tốn phần lớn số tiền chúng tôi đã chi ra cho quảng cáo trả tiền (paid advertising) để nâng cao sự trải nghiệm của khách hàng đối với thương hiệu của chúng tôi và để cho họ truyền miệng với nhiều người khác để quảng cáo cho chúng tôi.
@prdude trên mạng Twitter hỏi: Zappos có hàng trăm nhân viên trên Twitter. Lợi ích từ việc này có thể được tính như thế nào?
Một phần giá trị mà chúng tôi đạt được là đã xây dựng nền văn hoá của công ty. Nếu bạn vào trang twitter.zappos.com, bạn sẽ thấy tất cả các nhân viên gửi những tin nhắn trên đó. Chúng tôi có rất nhiều câu chuyện về các nhân viên của chúng tôi có những cuộc gặp gỡ ngoài lý do công việc thông qua Twitter. Nó là một các tốt để xây dựng mối quan hệ nội bộ.
Một nhân viên post lên trang Twitter rằng cô ấy muốn ăn một phần thịt băm có lẫn phó mát (cheeseburger), một người khác có thể nhìn thấy bài viết đó và mang đến cho cô ấy một phần cheeseburger. Đó như là một điều kì diệu đối với cô ấy.
Với các khách hàng, chúng tôi nhận thấy sẽ rất tốt nếu xây dựng được một sự liên kết mang tính cá nhân và nhạy cảm hơn với họ. Trên hầu hết các website rất khó để tìm ra các thông tin liên lạc. Không phải chỉ riêng trên Twitter, chúng tôi đặt số điện thoại 1-800 lên đầu mỗi trang web bởi vì chúng tôi muốn nói chuyện với các khách hàng.
Đó là cơ hội tốt nhất để nâng cao thương hiệu của chúng tôi. Chúng tôi có 5-10 phút để thu hút sự chú ý của khách hàng bằng cách để cho họ tự tìm hiểu những đặc tính tốt thật sự của chúng tôi và từ đó phát triển những liên kết với từng cá nhân khách hàng. Nó không khác với điện thoại, nhưng điện thoại không có vẻ lôi cuốn như vậy. chúng tôi không xem đó là một yếu tố để tăng doanh thu bán hàng mà là một cách để xây dựng mối quan hệ lâu dài.

Twitterer @agasperi hỏi: làm cách nào mà các bạn có thể duy trì được nền văn hoá của công ty trong điều kiện phát triển rất nhanh?
Cách duy nhất để đạt được điều này là làm cho mỗi nhân viên cảm thấy đó là một nhiệm vụ của họ. Chúng tôi coi đó là một phần trong quy trình tuyển nhân viên và chúng tôi sẵn sàng cho sa thải những ai không đạt được những giá trị cốt lõi của công ty ngay cả khi họ đáp ứng đúng chức năng của công việc.
Nó chiếm 50% khi đánh giá thành tích công việc. Tôi nghĩ đó là cách duy nhất để có thể xếp hạng các nhân viên.

Làm sao xây dựng thương hiệu danh tiếng?

Trong danh sách các công ty tập đoàn lừng danh nhất thế giới do Reputation Institute (Mỹ) công bố hồi cuối tháng 5/2010, những gương mặt nằm trong tốp đầu có điểm chung là sự sáng tạo (trong sản phẩm, dịch vụ).
Google và Sony, lần lượt chiếm vị trí số 1 và 2 đã lôi kéo được sự ngưỡng mộ của người tiêu dùng bằng những công nghệ mới.

Đáp ứng thiết thực nhu cầu cuộc sống

Thực ra, có rất nhiều công ty, tập đoàn trên thế giới ứng dụng và phát minh công nghệ mới. Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng nhất làm nên danh tiếng của Google và Sony là công nghệ mới của họ “chạm” đến từng khía cạnh cuộc sống. Nói một cách khác, những ứng dụng của Google hay sản phẩm điện tử của Sony đáp ứng thiết thực nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng hiện đại.
Hai doanh nghiệp này có bề dày lịch sử vững chắc trong việc tung ra các sản phẩm đi trước thời đại với sức hút mạnh mẽ về lợi ích vật chất lẫn cảm tính. Trong quý I/2010, doanh thu từ quảng cáo của Google đạt 6,7 tỷ USD (tăng trưởng hơn 23% so với cùng kỳ năm 2009). Chính những dịch vụ miễn phí như e-mail, bản đồ... dành cho mọi người đã gián tiếp giúp ông vua của thế giới dịch vụ Internet có được con số ấn tượng này. Đổi lại, lượng người sử dụng lớn sẽ kéo được các nhà quảng cáo chi tiền để quảng cáo sản phẩm, dịch vụ của họ trên các ứng dụng của Google.

Trong khi đó, Sony - nhà sản xuất hàng điện tử tiêu dùng lớn thứ hai thế giới sau Samsung - cũng đã có lịch sử 54 năm tung ra các loại máy chơi nhạc và TV hàng đầu. Gần đây, hai đại gia này đã hợp tác với nhau để tung ra sản phẩm TV kết nối Internet, một bước tiến quan trọng trong kỷ nguyên giải trí số.

... và rất thời trang

Các tập đoàn Apple, IKEA và Intel xếp hạng 6,7 và 8 (theo thứ tự) cũng chiếm được trái tim người tiêu dùng nhờ những sản phẩm thời trang. Việc Apple bán được 1 triệu chiếc iPad trong vòng 28 ngày sau khi chính thức giới thiệu sản phẩm này lần đầu tiên tại Mỹ là một kỳ tích mà không phải tập đoàn lừng lẫy nào cũng lập được.
Trên thực tế, Apple cũng đã lập những kỳ tích tương tự bằng iPod, iPhone, iPhone 3G và iPhone 3GS. Trong khi đó, IKEA, nhà bán lẻ đồ nội thất của Thụy Điển đang hiện diện tại 44 quốc gia, đã làm được cuộc cách mạng trên thị trường đồ nội thất bằng những sản phẩm hiện đại, thời trang nhưng giá cả phải chăng.

Còn Intel là ông trùm về bán dẫn, bộ vi xử lý... Sản phẩm của họ đang hiện diện khắp nơi, trong những sản phẩm công nghệ tiên tiến nhất, từ xe hơi, máy tính, thậm chí là truyền hình. Rõ ràng, sáng tạo về ứng dụng công nghệ là công cụ đầy quyền lực mê hoặc người tiêu dùng. BMW, Mercedes chiếm vị trí 9 và 10 trong bảng xếp hạng của Reputation Institute đã thiết lập được danh tiếng nhờ quá trình hình thành ánh hào quang về sự uy tín, đẳng cấp cao bao quanh thương hiệu của họ.
Hai thương hiệu xe hơi đến từ Đức là chuyên gia cấp cao trong việc sản xuất ra những chiếc xe sang, phục vụ cho tầng lớp tiêu dùng đang khao khát những sản phẩm, dịch vụ đỉnh cao. Họ đánh vào cảm tính của người mua xe. Hồi tháng 2 năm nay, BMW đã tung ra chiến dịch tái định vị và xây dựng thương hiệu. Giờ đây, qua thông điệp thương hiệu, BMW muốn trở thành tập đoàn mang lại niềm vui cho mọi người. Một trong những mẩu quảng cáo của BMW nói rằng: “Bạn làm mọi người cảm nhận được gì cũng quan trọng như những gì bạn làm. Chúng tôi làm ra sự hân hoan”.

Thể hiện nghĩa vụ công dân

Microsoft, xếp thứ 11 trong danh sách của Reputation Institute, xây dựng danh tiếng theo kiểu khác: cam kết thực hiện nghĩa vụ công dân. Đây là hình thái xây dựng thương hiệu đặc biệt quan trọng trong kinh doanh ở nhiều quốc gia (và cũng ngày càng phổ biến tại Việt Nam).
Năm 1994, Bill Gates, người sáng lập tập đoàn Microsoft đã tự trang bị một “vũ khí nhân văn” rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển của tập đoàn: thành lập Quỹ Bill & Mellinda Gates. Quỹ này hoạt động với mục đích cải thiện chất lượng giáo dục và y tế với quy mô hoạt động đa quốc gia. Xét về khía cạnh kinh doanh, Microsoft từng bị xem là một đế chế phần mềm mang tính độc quyền. Đây là hình ảnh hoàn toàn tiêu cực đối với Microsoft.

Tuy nhiên, bằng Quỹ Bill & Mellinda Gates, hình ảnh thương hiệu của tập đoàn này đã thay đổi. Hiện nay, trong cách nhìn nhận của cộng đồng kinh doanh quốc tế, Microsoft được xem là một doanh nghiệp chuyên làm từ thiện, dễ tiếp cận.

Bệ phóng: sân nhà

Trên thực tế, hầu hết các tập đoàn hùng mạnh đều bắt đầu từ sân nhà, cả về con người, công nghệ đến thương hiệu, sản phẩm. Khi đã đủ lực, mới vươn ra thị trường nước ngoài. Kasper Nielsen, Giám đốc Điều hành của Reputation Institute nhận định: “Có được danh tiếng toàn cầu là nhiệm vụ thực sự khó, nhưng tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp sẽ đến từ những thị trường quốc tế”.
Doanh nghiệp Việt Nam đa phần mới ở quy mô vừa và nhỏ. Dẫu vậy, những cái tên như Trung Nguyên, Vinamilk, Kinh Đô... vừa mở mang có chỗ đứng ở thị trường trong nước, vừa mở mang hoạt động hiệu quả ở một số thị trường nước ngoài. Biết đâu, trong tương lai không xa, những doanh nghiệp này và nhiều tên tuổi khác của Việt Nam sẽ lọt vào danh sách những tập đoàn danh tiếng nhất thế giới?

Danh tiếng trong xây dựng thương hiệu

Trong kinh doanh, mỗi công ty đều có điểm nổi bật riêng và những người tiếp xúc với bạn sẽ đánh giá công ty theo cách riêng của họ ngay cả việc họ chưa hợp tác làm ăn với bạn lần nào.
Thách thức ở đây là làm sao giữ được điểm nổi bật của bạn để tất cả mọi người đều có cách nhìn hoàn toàn tích cực. Đó là lý do tại sao chúng ta nên xây dựng thương hiệu để bước qua thách thức này.
Thương hiệu có một số chức năng chiến lược, có thể giúp bạn:

•Tạo khác biệt với các đối thủ cạnh tranh

•Định vị thông điệp của bạn trong suy nghĩ và cảm xúc của nhóm khách hàng mục tiêu

•Vững vàng hơn với những nỗ lực khuyến thị

•Giúp chương trình dịch vụ phản ánh đúng tính chất của thương hiệu

•Truyền tải thông điệp một cách nhanh chóng và rõ ràng

•Xây dựng đề án với mức độ tin cậy cao

•Đánh đúng cảm xúc người tiêu dùng

•Tạo và giữ các khách hàng trung thành

Với các công ty kinh doanh nhỏ, thương hiệu không chỉ là những chương trình quảng cáo thay đổi. Thương hiệu của doanh nghiệp nhỏ cần chứng tỏ cho nhóm khách hàng trong thị trường mục tiêu thấy rằng mình là sự lựa chọn tốt hơn. Xây dựng một thương hiệu nổi tiếng không chỉ phụ thuộc vào những gì bạn làm, mà còn phụ thuộc vào sự khác biệt trong những điều bạn làm so với các đối thủ.

Xây dựng thương hiệu:

Thương hiệu là lời hứa về giá trị mà khách nhận được. Trong một thế giới cạnh tranh phức tạp – chúng ta có thể thấy rất khó để phân biệt đâu là thật và đâu là giả - thì chìa khoá để kinh doanh thành công là phải giúp khách hàng không chỉ hiểu rõ giá trị họ nhận được mà còn hỗ trợ việc thực hiện lời hứa của thương hiệu cùng với bạn.

Để xây dựng một thương hiệu, bạn cần tập trung vào những giá trị mang lại cho khách hàng khi bạn làm hay thay đổi điều gì đó. Bạn có hoàn thành công việc đúng giờ mỗi ngày hay không? Bạn có chờ đợi và giải quyết khó khăn trước khi nó quá lớn? Khách hàng của bạn có tiết kiệm được tiền và giảm stress khi có bạn phục vụ hay không? Bạn có hoàn thành dự án đủ với số tiền trong ngân sách đã chi hay không?

Thương hiệu có khả năng kéo các hoạt động của công ty lại với nhau như dịch vụ khách hàng, khuyến mãi kinh doanh, quan hệ cộng đồng, thư quảng cáo, giảm giá, chương trình tài trợ, các kế hoạch truyền thông vào chung một thông điệp hợp nhất cho sản phẩm hay dịch vụ của công ty.Ngoài ra, thương hiệu còn giúp tất cả chương trình khuyến thị của bạn đi đúng theo mục tiêu của công ty đề ra.

Trong kinh doanh, bạn cần đánh giá thương hiệu của mình trong các mục sau:

•Thích hợp với thị trường: Thương hiệu phải đại diện cho một điều gì đó có ý nghĩa với một nhóm người hoặc thị trường mục tiêu và thương hiệu cần bao gồm cả những kinh nghiệm làm kinh doanh của bạn

•Khả năng giữ vững chất lượng thương hiệu: Khách hàng đòi hỏi thương hiệu luôn mang lại những giá trị không thay đổi cho họ vì trong thị trường, giá trị của bạn và sản phẩm thông qua thương hiệu. Con đường duy nhất để khiến họ trung thành với thương hiệu là bạn phải chứng minh được giá trị thương hiệu không thay đổi

•Xây dựng các mối quan hệ: Một thương hiệu không chỉ là logo hoặc quảng cáo trên báo đài hay tivi: “Sức mạnh thương hiệu nằm ở các mối quan hệ giữa công ty và khách hàng. Mối quan hệ càng tốt đẹp bền vững thì công việc kinh doanh càng thuận lợi, và khách hàng càng thích giới thiệu sản phẩm của bạn tới những người bạn của họ.

Trung thành với khách hàng: Kiểm tra thương hiệu thực chất là kiểm tra mức độ trung thành của thương hiệu. Nếu bạn có mối quan hệ hết sức tốt đẹp với nhóm đối tượng truyền thông thì bạn đang sở hữu trong tay một thương hiệu mạnh và một công việc kinh doanh vững chắc.

•Danh tiếng là vô giá: Con đường duy nhất dẫn đến thành công trong kinh doanh là phải xây dựng được danh tiếng tốt cho công ty, và thương hiệu có thể giúp bạn đạt được điều đó. Danh tiếng là công cụ tiếp thị tốt nhất khi bạn dùng các mối quan hệ trong kinh doanh và các mối quan hệ với thị trường mục tiêu để truyền thông
Những thương hiệu mạnh luôn hoạt động có hiệu quả trong bất cứ thời điểm nào. Để phát triển một thương hiệu có thể hoạt động lâu dài, bạn cần thực hiện các bước trên ngay bây giờ. Nghĩ xa hơn và kĩ hơn, bạn sẽ thấy những ví dụ cụ thể như thương hiệu Coke, Ford và General Electric.
Doanh số họ bán, những thay đổi họ làm đều luôn được đón nhận. Họ dựa vào giá trị thương hiệu được xây dựng trên sự tin tưởng của người tiêu dùng,và từ đó họ xây dựng niềm tin lớn hơn, vững chắc hơn.
Nếu bạn tạo ra niềm tin và đặt được nó vào tâm trí của khách hàng mục tiêu, điều đó có nghĩa là bạn hiện đang nắm được cánh cửa thành công. Càng nhiều người tin vào thương hiệu bạn thì tự nhiên càng thêm nhiều người khác tin vào thương hiệu mà bạn không cần phải đẩy mạnh nó.
Nếu thương hiệu rõ ràng, nổi bật, dễ hiểu và mang lại lợi ích cho những người tin tưởng vào nó, nó sẽ mang lại cho bạn rất nhiều cơ hội phát triển kinh doanh trong hiện tại và cả trong tương lai.

Định giá thương hiệu Việt

Tạp chí Forbes vừa công bố danh sách 20 thương hiệu đắt giá nhất hành tinh. Theo đó, Apple đã vươn lên vị trí số 1 trong bảng xếp hạng với giá trị thương hiệu được định giá là 57,4 tỷ USD. Tiếp đó là Microsoft trị giá 56,6 tỷ USD và thứ ba là Coca - cola với giá trị 55,4 USD. Điều này cũng cho thấy sức mạnh và giá trị vô hình của thương hiệu lớn như thế nào.

Ở VN, chưa có một thương hiệu nào nổi tiếng thế giới và cũng chưa có một tổ chức nào đứng ra đánh giá xếp hạng các thương hiệu nổi tiếng, song không phải không có những thương hiệu giá trị... triệu USD.

Cách đây vài năm, Công ty Unilever đã mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S của một DN VN trị giá 5 triệu USD; Hãng Colgate (Mỹ) cũng đã mua lại thương hiệu kem đánh răng Dạ Lan của một DN VN khác với giá 3 triệu USD... Điều đó cho thấy nhu cầu về mua bán, nhượng quyền thương hiệu trong kinh doanh đang ngày càng gia tăng.

Dạ Lan - một trong số ít những thương hiệu đình đám của Việt Nam với thương vụ chuyển nhượng trị giá 3 triệu USD

Bên cạnh đó, mỗi năm có tới hàng ngàn DN cổ phần hóa hoặc có nhu cầu thay đổi về quyền sở hữu, cơ cấu lại vốn đã kéo theo nhu cầu về định giá thương hiệu. Tuy nhiên, dịch vụ định giá thương hiệu DN ở VN còn hạn chế, phần lớn các DN VN có nhu cầu đang gặp phải khó khăn, lúng túng trong việc định giá thương hiệu như thế nào cho hợp lý.

Nguyên nhân là do ở VN còn có quá ít các tổ chức làm dịch vụ thẩm định giá có đủ uy tín và năng lực thực hiện định giá thương hiệu, nhất là định giá các thương hiệu lớn có uy tín trên thị trường. Đặc biệt, hành lang pháp lý cho các DN định giá thương hiệu còn thiếu và chưa đầy đủ.

Theo Thông tư hướng dẫn xác định giá trị DN số 79/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính, khi các DN có lợi thế kinh doanh (gồm vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu mạnh…) xác định giá trị DN áp dụng công thức tính dựa trên giá trị sổ sách của DN và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn. Công thức này không hoàn toàn phù hợp trên thực tế, nhất là áp dụng với các DN kinh doanh thương mại và dịch vụ điều này dẫn đến việc đánh giá không đúng giá trị thực của thương hiệu.

Bên cạnh đó cũng phải kể đến sự quan tâm đầu tư đối với việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các DN VN chưa thực sự cao. Việc đầu tư làm thương hiệu nhiều khi chỉ mang tính chất thời vụ phục vụ cho mục tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp chứ chưa coi đó là một quá trình liên tục.

Sáng tạo kiểu dáng để xây dựng thương hiệu


Sau bài “Thuế suất hàng điện máy điện tử: Bóp chết hàng Việt” (Báo SGGP đăng ngày 29-7), nhiều bạn đọc cho rằng việc nâng thuế suất linh kiện nhằm…khuyến khích sản xuất trong nước, bởi hiện nay ngành công nghiệp điện tử Việt chỉ dừng ở mức lắp ráp! Chúng tôi đã trao đổi với một số thành viên của Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt về vấn đề này.

“Chiếc máy vi tính Dell mang thương hiệu của mỹ, nhưng linh kiện lắp ráp đâu do Mỹ sản xuất mà từ các nước khác sản xuất. Mặt hàng điện tử là vậy, giá trị thương hiệu phụ thuộc vào hàm lượng chất xám về kiểu dáng và trí tuệ nhúng vào nó chứ không chỉ là phần cứng vật lý đơn thuần” – ông Phạm Thiện Nghệ, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam kiêm Tổng Thư ký Hội Tin học TPHCM, khẳng định.

Ông nói tiếp, hiện nay sản xuất phần cứng đã được phân công quốc tế, nếu chúng ta cứ sản xuất nhỏ lẻ, theo đuôi thì không thể cạnh tranh nổi. Điển hình là nhiều công ty sản xuất linh kiện của lãnh thổ Đài Loan đã bị phá sản vì khi sản xuất được đầu CD 2x, 4x, tung ra thị trường đã lạc hậu vì những nước tiên tiến đã cho ra đầu CD 16x, 32x.

Việt Nam có nhà máy sản xuất board mạch chủ của hãng Foxconn, nhà máy sản xuất bộ vi xử lý của Hãng Intel, máy in Canon… nhưng những nhà máy này được đầu tư vốn lớn với công nghệ sản xuất cao và sản phẩm được xuất cung ứng cho thị trường thế giới. Do vậy, với năng lực tài chính và khả năng hiện có, chúng ta không thể xây dựng nền công nghiệp công nghệ thông tin theo hướng này.

“Chúng ta cần phát triển theo hướng nghiên cứu phát triển kiểu dáng công nghiệp, các giải pháp ứng dụng, thiết kế vi mạch và sản phẩm nhúng”- ông Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt, cho biết.

Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước đã phát triển theo hướng xây dựng phần mềm như Công ty TMA, Global Cybersoft… Máy tính thương hiệu Việt vẫn chưa có phần mềm tiện ích thuần Việt nào để làm tăng giá trị sử dụng của những máy tính sản xuất tại Việt. Do vậy, để xây dựng thương hiệu Việt, chúng ta chỉ cần có ý tưởng, có sáng kiến cho sản phẩm, còn phần cứng có thể đặt linh kiện từ các nước khác.

8 yếu tố tạo nên thương hiệu ngân hàng

Trong những cuộc mua bán, sáp nhập ngân hàng, công ty tài chính gần đây, các nhà đầu tư đã chấp nhận trả những khoản tiền không nhỏ cho những tài sản vô hình. Một trong số đó là thương hiệu.

Trong những cuộc mua bán, sáp nhập ngân hàng, công ty tài chính gần đây, các nhà đầu tư đã chấp nhận trả những khoản tiền không nhỏ cho những tài sản vô hình. Một trong số đó là thương hiệu.

Một thương hiệu ngân hàng tốt là một thương hiệu có uy tín, được sự tin cậy của nhóm khách hàng mục tiêu. Dưới đây là những giá trị cốt lõi giúp một ngân hàng tạo dựng được uy tín của mình.

8 yếu tố tạo nên thương hiệu ngân hàng

1. Tăng hình ảnh

Không phải tất cả các ngân hàng đều biết tạo dựng hình ảnh chuyên nghiệp, gần gũi đối với khách hàng của mình. Điều này đòi hỏi cả bộ máy phải chú ý đến từng chi tiết: từ hành vi ứng xử, đồng phục nhân viên, phong cách giao tiếp, bảng thông báo.

Một số ngân hàng trong nước thậm chí không giữ được vệ sinh tối thiểu: bàn ghế bụi bẩn, giấy tờ lộn xộn… Họ lấy ly do đông khách hoặc đó chỉ là những tiểu tiết. Nhưng thực tế những điều được coi là tiểu tiết đó ảnh hưởng rất lớn đến thương hiệu của họ.

2. Tăng giá trị cá nhân

Ngân hàng muốn thành công phải tối đa hóa giá trị cá nhân của khách hàng. Một trong những biện pháp đó là quản lý thông tin khách hàng. Các ngân hàng chi nhiều tiền hơn để có thể quản lý khách hàng theo độ tuổi, thu nhập, địa bàn... nhằm theo sát và giữ chân khách hàng lâu hơn.

Các ngân hàng quốc tế xem khách hàng như vị khách “của cả cuộc đời”, với chu kỳ 40-60 năm. Khách hàng sẽ nghĩ gì khi ngân hàng này gửi thiệp chúc mừng sinh nhật họ còn ngân hàng khác thì không? Câu trả lời là ngân hàng nào từ chối chăm sóc những giá trị cá nhân của khách hàng, ngân hàng đó tất sẽ thua cuộc.

3. Tăng giá trị dịch vụ

Ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ. Vì vậy, giá trị của dịch vụ vô cùng quan trọng. Các ngân hàng chạy đua khốc liệt để đưa ra những Dịch vụ hoàn hảo, Dịch vụ trọn gói, Dịch vụ thân thiện... Tất cả là nhằm lọt vào danh sách các ngân hàng có dịch vụ tốt nhất.

4. Tăng giá trị sản phẩm

Sản phẩm của ngân hàng nhất thiết phải đem lại cho khách hàng một giá trị. Ví dụ: sở hữu tấm thẻ của ngân hàng là sở hữu tài sản có giá trị. Giá trị đó có thể giúp họ đạt được những mục tiêu nhất định: tiện trong thanh toán, đẹp trong thẩm mỹ, thể hiện “tầm”, “giá trị” cá nhân...

5. Giảm chi phí về tiền bạc

Ngoài việc bổ sung và nâng cao những giá trị khách hàng nhận được, các ngân hàng luôn nỗ lực giảm thiểu các chi phí cho khách hàng: miễn phí gửi xe, miễn phí đồ uống, miễn phí dịch vụ tư vấn qua điện thoại...

6. Giảm thiểu các chị phí về thời gian

Giảm thời gian giao dịch bằng công nghệ kiểm tra tài khoản qua mạng, qua điện thoại, giảm thời gian đi lại bằng cách mở nhiều đơn vị giao dịch, giảm thủ tục giao dịch...

7. Giảm chi phí về năng lượng

Có thể hiểu đó là năng lượng mà khách hàng phải tốn khi giao dịch với ngân hàng như nhiên liệu, phải leo quá nhiều tầng để đến bàn giao dịch, đổ mồ hôi do thủ tục không hợp lý...

8. Giảm chi phí về tâm lý

Chúng ta nói đến việc cạnh tranh với các ngân hàng ngoại. Nhưng quyết tâm và hành động là hai việc khác nhau. Chẳng hạn, tại một số ngân hàng, người ta vẫn thấy cảnh khác hàng đứng chen chúc như thể chờ ngân hàng ban phát ân huệ. Nhiều ngân hàng thường đóng cửa giao dịch sớm hơn quy định.

Hệ quả tất yếu là khách hàng luon có tâm lý thấp thỏm khi giao dịch với ngân hàng. Họ kháo nhau: “Quảng cáo của các ngân hàng hoàn toàn khác với những gì họ nhận được”.

Cuối cùng, xin nhấn mạnh rằng thương hiệu không chỉ là logo, quảng cáo. Thương hiệu là những giá trị được khách hàng cảm nhận và ghi nhận. Thương hiệu nằm trong trái tim, trí óc của khách hàng và sẽ trường tồn nếu ngân hàng dày công xây dựng.

Vụ K+ nhìn từ Luật Cạnh tranh

LTS: Luật Cạnh tranh đang ngày càng gắn với đời sống doanh nghiệp dù muốn hay không. Mượn trường hợp K+ để phân tích, tác giả giúp cho độc giả, nhất là các doanh nghiệp, có cái nhìn thấu đáo hơn về luật này nhằm rút ra bài học cho doanh nghiệp mình.

Chiếm vị trí thống lĩnh thị trường (mà độc quyền chỉ là trường hợp đặc biệt khi không còn đối thủ cạnh tranh), vẫn luôn là mục tiêu và động lực của doanh nghiệp, vì ở vị thế này, họ có thể dễ dàng đạt lợi nhuận tối ưu. Cuộc chạy đua giành vị trí thống lĩnh thị trường cũng góp phần thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả.

Vì vậy, không ai cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường cả. Luật Cạnh tranh chỉ cấm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và không cho phép hình thành vị trí thống lĩnh thị trường nào có nguy cơ lạm dụng cao. Luật Cạnh tranh của Việt Nam chỉ nêu hai yếu tố để coi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là có thị phần từ 30% trở lên, hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh.

Không vi phạm Luật Cạnh tranh ở góc độ độc quyền

Để tham gia thị trường tiêu thụ, doanh nghiệp - trong tư cách người chào hàng - trước hết luôn tìm cách có được những lợi thế cạnh tranh của người bán hàng sao cho chỉ mình họ là người có nguồn hàng duy nhất. Đó có thể là nhượng quyền thương mại (franchise), độc quyền phân phối, độc quyền sử dụng, khai thác quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp. Như K+ mua độc quyền phát hành tác phẩm là các chương trình thu hình giải ngoại hạng Anh, như một số công ty dược phẩm mua patent sản xuất độc quyền thuốc đặc trị tại Việt Nam.

Nói chung, những độc quyền như vậy chỉ bảo vệ họ không bị cạnh tranh bởi các đối thủ khác (người bán) cũng muốn được phân phối chính các sản phẩm này và họ được bảo vệ trước hết bởi Luật Sở hữu trí tuệ. Nhưng trên thị trường tiêu thụ, độc quyền đó không phải là một bảo đảm để người tiêu dùng chỉ mua sản phẩm của họ mà không mua các sản phẩm khác có tính năng tương tự, có thể thay thế, để đáp ứng nhu cầu của mình.

Xác định thị trường liên quan là việc làm đầu tiên, quan trọng, tốn kém và cũng khó khăn nhất để trả lời câu hỏi liệu một doanh nghiệp có lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hay không. Thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. (Ở châu Âu còn thêm thị trường thời gian liên quan).

Đối với K+, thị trường tiêu thụ các chương trình phát sóng giải ngoại hạng Anh chẳng hạn, trước hết là thị trường cung cấp các chương trình truyền hình giải trí gồm các chương trình thể thao, văn hóa văn nghệ, trò chơi truyền hình... để đáp ứng nhu cầu giải trí bằng truyền hình của người dân.

Tại thị trường hẹp hơn là thị trường các chương trình thể thao thì K+ cũng phải cạnh tranh với chương trình về các môn thể thao khác như quần vợt, đấm bốc, bơi lội, đua xe hơi, xe đạp. Hẹp nhất (chỉ tính riêng môn bóng đá), K+ phải cạnh tranh với chương trình phát sóng giải vô địch các nước khác như của Đức, Bồ Đào Nha, Nga... Các thị trường này đều có thể là thị trường liên quan của K+.

Phạm vi cụ thể của thị trường sản phẩm liên quan chủ yếu được xác định theo nguyên tắc khả năng thay thế chức năng theo góc nhìn của người tiêu thụ (yếu tố cầu). Toàn bộ sản phẩm, dịch vụ - theo cách nhìn của người tiêu thụ về tính chất, giá cả, mục đích sử dụng - mà tương đương, có thể thay thế nhau, đều thuộc vào thị trường sản phẩm liên quan.

Hiện nay, khả năng thay thế được xác định qua điều tra giả định ý kiến người tiêu dùng bằng phương pháp thử SSNIP-Test (Small but Significant Non-transitory Increase in Price). Theo đó, hai sản phẩm A, B cùng thuộc thị trường liên quan, nếu khi giá mua A tăng từ 5-10% trong một khoảng thời gian đủ dài, thì người tiêu thụ sẽ chuyển sang mua B. Nếu A, B thuộc thị trường liên quan thì tiếp tục giả định tăng giá A và B để xác định C. Điều tra sẽ chấm dứt tại sản phẩm X khi việc tăng giá các sản phẩm A, B, C... không làm người tiêu thụ chuyển sang mua X mà sẵn sàng chấp nhận tăng giá. Thị trường sản phẩm liên quan sẽ bao gồm các sản phẩm được điều tra không phải là X.

Xác định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường trên thị trường liên quan của mình hay không, cũng không dễ. Bản chất của nó là xác định liệu doanh nghiệp đó có thể tăng lợi nhuận bằng những cách thức tùy thích - thường là tăng giá bán - mà không cần phải chú ý đến phản ứng của người tiêu thụ, của đối thủ cạnh tranh hay không.

Để làm được điều đó, phải điều tra phân tích cả ba bên tham gia thị trường là doanh nghiệp (thị phần, sức mạnh tài chính, cơ cấu tổ chức, hệ thống phân phối...), đối thủ cạnh tranh (sức mạnh tài chính, khả năng chuyển đổi sản phẩm, khả năng thâm nhập thị trường...), người tiêu thụ (tập quán, thói quen, thu nhập...) và cuối cùng là cơ cấu thị trường dưới góc độ cạnh tranh (số lượng các đối thủ cạnh tranh, thị phần...).

Cuối cùng mới là việc xem xét những hành vi cụ thể của doanh nghiệp giữ vị trí thống lĩnh thị trường có phải là hành vi lạm dụng bị cấm hay không.

Như vậy, không thể đánh đồng việc K+ được độc quyền sử dụng quyền tác giả (chương trình ghi hình giải bóng đá) là độc quyền trên thị trường liên quan rồi từ đó lên án họ tăng giá hay áp đặt điều kiện giao dịch.

Nhưng có thể vi phạm Luật Cạnh tranh ở những góc độ khác

Tuy nhiên, không áp dụng Luật Cạnh tranh để điều tra các doanh nghiệp tham gia mua bản quyền với Công ty MP & Silva cũng là một thiếu sót. Lý do:

- Các doanh nghiệp như SCTV, VCTV, VTC, K+ đều có phần góp vốn quan trọng của VTV ở mức không thể bỏ qua tiếng nói của VTV. Việc các doanh nghiệp này dễ dàng nhường cho K+ thắng thầu có thể là hành vi “thông đồng để một bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ”, vi phạm khoản 8, điều 8 Luật Cạnh tranh.

- Thực tế cho thấy, hiện nay các doanh nghiệp khác vẫn có thể được khai thác, sử dụng lại các chương trình độc quyền của K+, nhưng với điều kiện tối thiểu là phải tuân thủ các điều kiện do K+ đã ký kết với MP & Silva. Không thể loại trừ rằng, K+ và VTV, SCTV, VCTV, VTC đã biết và tính toán trước là các điều kiện này sẽ bảo đảm lợi nhuận cao cho mình. Họ chủ đích để K+ ký hợp đồng với MP & Silva, nhằm hợp thức hóa, biến những điều kiện đó thành điều kiện bắt buộc tối thiểu - không thể thương lượng - ép các bên thứ ba muốn sử dụng lại các chương trình do K+ độc quyền. Nếu đúng vậy, họ đã “thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách gián tiếp”, vi phạm khoản 1, điều 8 Luật Cạnh tranh.

- Phát thanh, truyền hình là lĩnh vực độc quyền của Nhà nước. Theo điều 15 Luật Cạnh tranh, Nhà nước có quyền và trách nhiệm kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Vì vậy, giá mua bán chương trình của K+, VTV, kể cả của liên doanh VSTV cũng phải do Nhà nước quyết định (mục a, khoản 1, điều 15 Luật Cạnh tranh). Cần điều tra làm rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào đã vi phạm điều 15 Luật Cạnh tranh, bỏ qua trách nhiệm kiểm soát giá cả này.

Nhà nước là người đại diện bảo vệ quyền lợi chung của xã hội. Lẽ ra Cục Quản lý cạnh tranh là đại diện nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh đã phải chủ động tiến hành điều tra các hành vi trên mà không cần phải có đơn khiếu nại. Cần có quy định cụ thể để Cục Quản lý cạnh tranh có trách nhiệm chủ động điều tra những hành vi cạnh tranh nào: a) gây ảnh hưởng đến một số lượng lớn người tiêu dùng; b) của doanh nghiệp độc quyền nhà nước; hoặc c) của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước.

Girls Generation - Korean